Kỳ 36: Trận đánh cuối cùng
Trận Đồng Dù
Đúng 5 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 320 nổ súng tiến công Đồng Dù. Ở hướng chủ yếu, đại đội 3 do Trần Nhật Tăng chỉ huy, Đào Xuân Sáng làm chính trị viên, mở cửa nhưng vừa phá được 2 lớp rào thì bị địch phát hiện, hỏa lực trút xuống như mưa. Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Dóng chỉ huy bộ đội người trước ngã người sau xông lên phá hết lớp rào này đến lớp rào khác cho đến khi thông cửa. Khi trung đội trưởng học sâu Vũ Văn Sơn dẫn quân đánh chiếm lô cốt đầu cầu thì bị một xe tăng M41 ngụy trang trong tường đất bắn chặn. Sơn nhặt khẩu B40 của đồng đội bị thương, đứng thẳng người siết cò, hạ gục chiếc xe tăng, mở đường cho đại đội 3 xung phong.
Ở cửa mở thứ hai, đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ cùng xạ thủ Nguyễn Tiến Ngo diệt một xe tăng M41 khác; khi tuyến công sự vòng ngoài vẫn kháng cự dữ dội, Bạ lại lấy B40 diệt ụ đại liên, chi viện cho bộc phá viên Lê Văn Sử phá tung hàng rào cuối cùng. 7 giờ 30 phút, đại đội 1 chiếm được tuyến công sự thứ nhất.
8 giờ, xe tăng ta tham gia đột phá nhưng 3 chiếc bị bắn cháy ngay cửa mở. Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình lệnh cho tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Hạ đưa quân vượt qua. Trận đánh mỗi lúc thêm ác liệt, chính trị viên tiểu đoàn 2 hy sinh. Hạ quyết định cho đại đội 6 tiếp tục phát triển trong khi củng cố các khu vực đã chiếm để mở đường cho xe tăng. Không xác định được sở chỉ huy địch giữa một căn cứ rộng lớn, Hạ chỉ thị bộ đội nhằm hướng cột ăng-ten lớn mà đánh. Đúng lúc đó, đội hình Sư đoàn 10 xuất hiện trên đường số 1 tiến vào Sài Gòn. Hạ hô lớn kêu gọi anh em xông lên. Quân địch trong căn cứ, vừa bị đánh mạnh vừa hoảng loạn khi thấy lực lượng lớn của ta tiến vào nội đô, tinh thần sụp đổ hoàn toàn. Đúng 11 giờ, đại đội 1 và đại đội 6 làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy. Tướng Lý Tòng Bá cùng tùy tùng chạy trốn vào rừng cao su, bị nhân dân và du kích Củ Chi bắt sống.
Cùng thời gian, Sư đoàn 316 tiêu diệt và bắt tù binh toàn bộ hai trung đoàn 46, 49 cùng liên đoàn bảo an 251 tại Trảng Bàng, đập tan hệ thống phòng ngự từ Đồng Dù đến Gò Dầu Hạ.
Sư đoàn 10 thọc sâu vào nội đô
3 giờ 30 phút, tiểu đoàn 20 (trung đoàn 198) đánh chiếm cầu Bông, đẩy lui phản kích của tiểu đoàn dù 81 sau 50 phút. Ở cầu Sáng, do phải vòng tránh địch nên trời đã sáng khi tiểu đoàn 2 (trung đoàn 198) triển khai; sau 30 phút chiến đấu, phối hợp một bộ phận tiểu đoàn 7 (trung đoàn 64), quân ta làm chủ cầu Sáng.
5 giờ 30 phút, trung đoàn 24 (Vũ Văn Tài - trung đoàn trưởng, Bùi Văn Hòe - chính ủy) xuất kích với 4 khối lực lượng gồm hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, pháo và xe chở quân, mang cờ Tổ quốc và cờ Chính phủ cách mạng lâm thời. Vượt kế hoạch ban đầu, trung đoàn tiến thẳng theo đường số 1 xuyên qua quận lỵ Củ Chi. 10 giờ 50 phút, đụng độ một lực lượng địch cách Củ Chi 4km, diệt 4 xe tăng và một trung đội, rồi tiếp tục thọc về cầu Bông. Tại đây, một đoàn xe tăng, thiết giáp địch từ Hậu Nghĩa rút chạy cũng đang tiến về cầu Bông; các chiến sĩ trung đoàn 64 và đặc công 198 chốt giữ phát hiện không có cờ ta trên xe, lập tức nổ súng chặn đánh. Đại đội xe tăng 9 do Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy ập tới từ phía sau, đánh cả hai đầu khiến toàn bộ đoàn xe địch bị tiêu diệt và bắt sống.
Trung đoàn 24 tiếp tục phát triển, đánh chiếm thành Quan Năm, rồi đến 14 giờ 40 phút giao chiến ác liệt tại trại huấn luyện Quang Trung phải dùng tới 25kg thuốc nổ mới phá được các ụ đất cản đường. Chiến sĩ trung đoàn 234 bắn rơi một trực thăng vũ trang địch giữa lúc hành tiến. 17 giờ, đội hình vượt cầu Tham Lương; 18 giờ tiến đến nhà máy dệt Vi-na-téc-cô sát tây sân bay Tân Sơn Nhất, nơi địch dùng cả đạn hóa học chặn đường. Sau khi điều thêm pháo và xe tăng, quân ta chiếm xưởng dệt, đẩy địch chạy về ngã ba Bà Quẹo. Tại đây địch ba lần phản kích bằng xe tăng và lính dù từ 18 đến 19 giờ 30 phút nhưng đều bị đánh bại 21 cán bộ chiến sĩ trung đoàn 24 đã hy sinh trong trận này. Đến 21 giờ ngày 29 tháng 4, trung đoàn 24 là mũi thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất, vượt cả thời gian quy định.
Trên hướng đường 15, trung đoàn 28 xuất kích lúc 6 giờ, chiếm đồn Phú Hòa Đông sau 30 phút, đánh tan phản kích của sư đoàn 25 ngụy tại Tân Quy lúc 11 giờ 50, diệt 5 xe M113, 15 xe GMC. Khi vượt cầu Sáng, do xe tăng chạy gần nhau tốc độ cao gây cộng hưởng làm sập cầu, trung đoàn phải vòng qua Đồng Dù, cầu Bông để tiếp tục tiến, đến 18 giờ 30 phút dừng lại củng cố tại cầu Tham Lương.
Sau một ngày, Quân đoàn 3 đã đập tan tuyến phòng thủ dài 40km mạnh nhất của địch ở tây bắc Sài Gòn. Đường vào Sài Gòn đã mở. Cùng lúc, các cánh quân khác đều phát triển thuận lợi: Quân đoàn 1 áp sát bắc Lái Thiêu; Đoàn 232 làm chủ Hậu Nghĩa, Đức Hòa; Quân đoàn 2 làm chủ Vũng Tàu, Nhơn Trạch, phát triển về Thủ Đức. Thành ủy Sài Gòn đưa 1.700 cán bộ và biệt động vào nội thành hoạt động, mở bàn đạp cho đại quân. Chiều 29 tháng 4, toàn huyện Củ Chi được giải phóng, cờ cách mạng xuất hiện tại nhiều khu vực nội thành.
Ngày toàn thắng — 30 tháng 4
5 giờ 25 phút ngày 30 tháng 4, tác giả cùng Vũ Lăng và bộ phận cán bộ chủ chốt có mặt tại sở chỉ huy Sư đoàn 10 phía nam Hóc Môn để trực tiếp chỉ đạo. 7 giờ 15 phút, Vũ Lăng ra lệnh tổng công kích. Toàn bộ pháo binh quân đoàn và Sư đoàn 10 đồng loạt dội vào Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu ngụy, thiêu cháy máy bay, kho bom đạn; các bộ tư lệnh dù, không quân, thiết giáp địch chìm trong khói lửa.
Trung đoàn 24 cùng xe tăng đột phá ngã tư Bảy Hiền, nơi địch bố trí tiểu đoàn dù 8 cùng xe tăng M41, M48 chốt chặn từ trong đêm, lợi dụng nhà cao tầng bắn xuống dày đặc. Đại đội trưởng Trịnh Bá Tư hy sinh khi chỉ huy đột phá, tấm gương của anh thôi thúc đồng đội. Chiến sĩ Vũ Văn Chung dùng B40 hạ một xe tăng M41; xe tăng 985 bị bắn hỏng pháo, chiến sĩ lái Phùng Văn Tính (21 tuổi) lao thẳng xe húc vào xe tăng địch khiến chúng khiếp sợ đầu hàng. 8 giờ 5 phút, một máy bay L19 địch bị bắn rơi ngay khi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất đây là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị hạ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. 8 giờ 45 phút, trung đoàn 24 làm chủ ngã tư Bảy Hiền, tiếp tục phát triển về cổng số 5 sân bay.
Đúng lúc này, Bộ tư lệnh Quân đoàn nhận điện khen của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ghi nhận chiến công đập tan tuyến phòng ngự đông bắc, tây bắc, kêu gọi toàn quân với khí thế "trăm trận trăm thắng" đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng, kết hợp tiến công và nổi dậy, giữ nghiêm kỷ luật, bảo vệ tính mạng tài sản nhân dân để giành thắng lợi trọn vẹn cho chiến dịch mang tên Bác.
9 giờ 5 phút, tiểu đoàn 5 (trung đoàn 24) và xe tăng tiến đến cổng số 5 sân bay, gặp hỏa lực mạnh cùng tên lửa chống tăng, hai xe tăng và một xe K63 bị cháy. Chỉ huy trung đoàn điều thêm xe tăng, pháo chi viện; xe kéo pháo bị trúng đạn cháy, pháo thủ thương vong nhưng cụm hỏa lực vẫn duy trì yểm hộ hiệu quả. Ba xe tăng ta bị bắn hỏng nhưng chiến sĩ vẫn bám xe chiến đấu pháo thủ Nguyễn Trần Đoàn bị thương dập nát cánh tay vẫn không rời vị trí, còn nhờ đồng đội cắt bỏ cánh tay để tiếp tục bắn. Chính trị viên Đỗ Trọng Lợi trực tiếp chỉ huy đột phá chiếm khu truyền tin, bộ tư lệnh sư đoàn 5 không quân. Đến 10 giờ 30 phút, quân ta bắt 57 tù binh trong đó có 3 đại tá địch.
Song song, tiểu đoàn 4 đánh theo cổng số 4, 9 giờ chiếm Bộ tư lệnh dù; tiểu đoàn 6 tiến vào Bộ tư lệnh không quân và tìm gặp phái đoàn quân sự ta tại trại Đa-vít trong một cuộc hội ngộ đầy xúc động. 10 giờ 35 phút, quân ta vào bộ tư lệnh không quân ngụy, nơi bức tượng đại bàng đồng biểu tượng "không lực Việt Nam cộng hòa" bị trúng đạn gãy gục. 11 giờ 30 phút, lá cờ Quyết thắng được kéo lên đỉnh cột cờ bộ tư lệnh không quân ngụy. Cuộc chiến trong sân bay Tân Sơn Nhất kéo dài đến 14 giờ mới dứt tiếng súng.
Bộ tổng tham mưu ngụy thất thủ
Trên hướng trung đoàn 28, sau khi bị chặn ở phía bắc trại Quang Trung (2 xe tăng ta bị bắn cháy), đơn vị chuyển hướng theo đường trung đoàn 24, qua Lăng Cha Cả rồi vòng qua nhà thờ Tân Sa Châu tiến vào Bộ tổng tham mưu. 10 giờ 30 phút, tiểu đoàn 3 cùng xe tăng đột phá cổng chính, xe tăng 815 do Đỗ Hồng Kỳ chỉ huy bắn cháy một xe M113 và một xe GMC địch, buộc một đại đội địch đầu hàng. Trung đoàn chia hai mũi đánh thẳng vào trung tâm.
Xe tăng 982 (Nguyễn Hữu Thìn) và 815 (Đỗ Hồng Kỳ) dẫn đầu tiến đến tòa nhà chính. Cùng lúc chiến sĩ trung đoàn 48 (Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1) cũng áp sát. Tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Tân, được Trần Lựu yểm hộ, chạy lên sân thượng hạ cờ ngụy, kéo cờ Chính phủ cách mạng lâm thời lên đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến sĩ ta thu toàn bộ con dấu, cờ hiệu, tài liệu quan trọng trong tòa nhà.
Cùng thời gian, Sư đoàn 320B chiếm trận địa pháo, sân bay trực thăng, các phòng ban chiến lược của Bộ tổng tham mưu. Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) cũng có mặt phối hợp giữ các cơ quan đầu não chiến tranh. Trung đoàn 64, do Phí Triệu Hàm chỉ huy, cơ động theo đường Lê Văn Duyệt đến dinh Độc Lập thì đơn vị bạn đã chiếm xong Dương Văn Minh và nội các đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Một sự trùng hợp đáng nhớ: đúng 11 giờ 30 phút, cờ chiến thắng đồng thời tung bay tại ba mục tiêu then chốt dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất.
Trong trận đánh cuối cùng ở khu cư xá sĩ quan Mỹ, 4 chiến sĩ trung đoàn 64 đã ngã xuống, 12 người bị thương những giọt máu cuối cùng đổ xuống đường phố Sài Gòn cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Sài Gòn thành phố mang tên Bác hoàn toàn giải phóng. Nhân dân đổ ra đường, cờ đỏ sao vàng và cờ Chính phủ cách mạng lâm thời rợp khắp phố phường, vây quanh những đoàn xe tăng, khẩu pháo trong niềm hân hoan của cả dân tộc sau 21 năm, tính từ ngày Nam Bộ kháng chiến là 30 năm mong đợi.
Lời kết của người chiến sĩ Tây Nguyên
Nhìn lại hơn mười năm chinh chiến trên đất Tây Nguyên, tác giả bày tỏ niềm tự hào được là người lính "bộ đội B3" trong một thời kỳ không thể nào quên. Những địa danh Plây Me, Sa Thầy, Măng Giang, An Khê, Đắc Tô - Tân Cảnh, Buôn Ma Thuột, Đường 7, Phượng Hoàng cùng những địa điểm gắn bó máu thịt như "Cổng trời", "Bãi C1", "Dốc trăm bậc" sẽ mãi in sâu trong ký ức những người lính Tây Nguyên năm xưa.
Ở cuối chặng đường đuổi giặc, tác giả không quên những đồng chí, đồng đội đã nằm lại trên khắp cánh rừng, góc núi, chưa kịp nhìn thấy biển trong đó nhiều người còn rất trẻ, hy sinh ngay trước giờ chiến thắng. Tác giả mời những ai có dịp lên Tây Nguyên hãy dừng chân lặng lẽ trước Nhà tưởng niệm gần mười nghìn liệt sĩ của Sư đoàn 10 tại thị xã Kon Tum biểu tượng cho hàng chục nghìn liệt sĩ của Mặt trận Tây Nguyên và Quân đoàn 3 đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng Tây Nguyên, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.