Kỳ 34: Kết thúc chiến dịch Tây Nguyên
Trên toàn chiến trường, tương quan lực lượng lúc này đã nghiêng hẳn về phía cách mạng. Lực lượng chiến lược ngụy suy yếu nghiêm trọng, đang tan rã trên diện rộng. Trong 4 quân khu của địch, quân khu 2 và quân đoàn 2 chịu thiệt hại nặng nhất, buộc phải bỏ Tây Nguyên, không còn đủ sức phản kích mà chỉ có thể co cụm lập tuyến ngăn chặn quanh Nha Trang, Cam Ranh để bảo vệ Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long. Địch vội rút lực lượng dự bị khỏi Trị - Thiên, đưa lữ đoàn dù số 3 lập chốt chặn ở đèo Ma Đrắc hiểm trở.
Trên khắp các chiến trường khác, tin thắng trận cũng dồn dập bay về: Quân đoàn 2 và bộ đội địa phương Trị - Thiên đánh chiếm cửa Thuận An, Tư Hiền, tiến vào giải phóng Huế từ ba mặt; Sư đoàn 2 giải phóng Tuần Dưỡng, Tam Kỳ; quân dân Quảng Ngãi nổi dậy giải phóng toàn tỉnh; Đà Nẵng bị bao vây bốn mặt; ở Nam Bộ, Sư đoàn 7 đánh chiếm Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai, tiến về Lâm Đồng; lực lượng vũ trang Quân khu 7 tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng và loạt vị trí địch khác. Riêng ở Tây Nguyên, dù chiến đấu liên tục và quyết liệt, các đơn vị vẫn còn sung sức, khí thế thi đua sôi nổi, hậu cần dồi dào, thời tiết mùa khô thuận lợi cho cơ động.
Ba mũi tiến xuống đồng bằng
Ngày 21 tháng 3, tại sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh, Văn Tiến Dũng truyền đạt nhiệm vụ mới của Quân ủy Trung ương: tiếp tục phát triển trên ba trục đường 19, 7, 21, giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định, mục tiêu chính là tiêu diệt lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc rồi tiến xuống Nha Trang, Cam Ranh.
Cánh quân thứ nhất hướng về Bình Định. Ngày 29 tháng 3, trung đoàn 19 (Sư đoàn 968) và trung đoàn 95A phối hợp Sư đoàn 3 Quân khu 5, sau 3 ngày chiến đấu đã xóa sổ sư đoàn 22 ngụy — sư đoàn chủ lực cuối cùng của quân đoàn 2. 13 giờ ngày 31 tháng 3, quân dân Bình Định đánh vào Quy Nhơn, đến 16 giờ ngày 1 tháng 4 thị xã được giải phóng. Cùng lúc, tiểu đoàn 2 trung đoàn 95A vượt biển giải phóng các đảo Hòn Tre, Cù Lao Thu.
Cánh quân thứ hai, Sư đoàn 320, ngày 28 tháng 3 đã có mặt ở tây Phú Yên, được đảng bộ và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ vác đạn, tải thương, dẫn đường. Ngày 31 tháng 3, tiểu đoàn 9 đánh Hòn Một, tiểu đoàn 8 chiếm đoạn đường số 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hòa Xuân. 5 giờ sáng 1 tháng 4, các mũi của Sư đoàn 320 đồng loạt đánh vào Tuy Hòa, chỉ sau 45 phút đã khống chế trung tâm thị xã; trung đoàn 48 chiếm căn cứ Chóp Chài rồi đánh tiếp sân bay Đông Tác, vượt sông Đà Rằng chiếm ty cảnh sát và tiểu khu Phú Yên. 9 giờ cùng ngày, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã Tuy Hòa. Ngoài khơi, được ngư dân giúp đỡ, bộ đội dùng thuyền truy kích địch đang cướp thuyền dân chạy trốn. Tại khu vực sân bay, trung đội trưởng Đàm Việt Hùng bắt sống chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh quân đoàn 2; một mũi khác bắt được đại tá Vi Văn Bình đang cải trang chạy trốn — đây là lần thứ hai viên đại tá này bị bắt, sau lần đầu ở Đắc Tô - Tân Cảnh ba năm trước.
Cánh quân thứ ba, gồm Sư đoàn 10, trung đoàn 25, trung đoàn pháo binh 40 và xe tăng trung đoàn 273, sau khi giải phóng Khánh Dương được lệnh đánh lữ đoàn dù 3 tại đèo Ma Đrắc - Phượng Hoàng để mở đường xuống Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh. Địch dưới quyền chỉ huy của đại tá Văn Bá Ninh củng cố các chốt có sẵn, đào thêm công sự, giấu pháo trong các eo núi, ngụy trang xe tăng ven đường, áp dụng chiến thuật phòng ngự phân tán theo từng đại đội để hạn chế tổn thất khi bị phát hiện.
Trận Phượng Hoàng - Ma Đrắc
Để tiêu diệt lữ dù 3, Bộ tư lệnh chiến dịch cử tác giả (người viết hồi ký) cùng Vũ Lăng trực tiếp đốc chiến Sư đoàn 10. Ngày 25 tháng 3, hai người có mặt tại sở chỉ huy sư đoàn, cùng thống nhất phương án: đánh nhanh diệt gọn từng tiểu đoàn địch, cài thế vây phía đông đèo, kết hợp đột phá chính diện với bao vây hai bên sườn, phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng, giành thế chủ động bất ngờ, hạn chế tối đa thương vong để còn lực lượng phát triển xuống đồng bằng ngay sau đó.
Sáng 29 tháng 3, trận đấu pháo mở màn làm rung chuyển cả đoạn đèo dài hơn 10km. Nhờ những khẩu pháo thu được ở Buôn Ma Thuột cùng đạn pháo lấy từ kho Mai Hắc Đế, quân ta phá hủy 12 khẩu pháo địch, làm giảm một nửa sức chi viện hỏa lực của chúng, buộc bộ binh địch phải co cụm. Nắm đúng thời cơ, Sư đoàn 10 tung bộ binh và xe tăng đột phá, cắt quân địch ra từng mảng khiến quân dù hoang mang, dao động.
Ngày 1 tháng 4, cùng thời điểm Sư đoàn 320 giải phóng Tuy Hòa, các đơn vị Sư đoàn 10, trung đoàn 25 và xe tăng đồng loạt tiến công toàn bộ cụm quân dù. Chỉ sau 2 giờ, lữ đoàn dù 3 bị tiêu diệt hoàn toàn, "cánh cửa thép" Phượng Hoàng - Ma Đrắc sụp đổ. Bộ đội tràn xuống giải phóng Ninh Hòa. Đoàn quân từ núi rừng Tây Nguyên hành quân hướng ra biển trong niềm hân hoan khó tả — sau bao năm chiến đấu ở cao nguyên, nhiều cán bộ chiến sĩ không giấu được xúc động khi lần đầu nhìn thấy biển Đông trước mặt.
Sáng 2 tháng 4, trung đoàn 24 và tiểu đoàn 3 trung đoàn 28 cùng xe tăng, pháo binh tiến vào Ninh Hòa; nhân dân địa phương nổi dậy giành quyền làm chủ, cả thị trấn rợp cờ hoa đón bộ đội. 13 giờ cùng ngày, lực lượng đột kích của Sư đoàn 10 do Vũ Đình Thước chỉ huy tiếp tục theo đường số 1 tiến về Nha Trang.
Nha Trang thất thủ, Cam Ranh giải phóng
Sáng 1 tháng 4, khi hay tin lữ dù 3 tan rã, Phạm Văn Phú vội họp khẩn tính chuyện "tử thủ" Nha Trang, ra lệnh thiết quân luật, gấp rút củng cố phòng thủ, thu gom tàn quân, lập mặt trận Nha Trang do Phạm Quốc Thuần chỉ huy. Nhưng sau cuộc họp, khi bay thị sát bằng trực thăng mà không liên lạc được với đơn vị nào, Phú đã bay thẳng về Phan Rang, không quay lại Nha Trang như dự định. Bất chấp lệnh giới nghiêm, quân lính và nhân viên ngụy quyền bỏ nhiệm sở lo di tản gia đình; tàn quân dù, biệt động cùng hơn một nghìn tù phạm vừa phá ngục tràn về thành phố, tranh cướp xe cộ khiến Nha Trang hỗn loạn.
17 giờ ngày 2 tháng 4, sau khi đánh tan các chốt ở đèo Rọ Tượng, đèo Rù Ri, lực lượng Sư đoàn 10 vượt cầu Xóm Bóng tiến vào thành phố, tiêu diệt những ổ đề kháng cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy. Nhân dân thành phố biển vây quanh xe bộ đội, tặng trái cây, nước ngọt chào đón.
Sáng 3 tháng 4, lực lượng đột kích tiếp tục tiến về phía nam giữa làn bom đạn của không quân địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Mịch bắn rơi tại chỗ một máy bay A37, bắt sống giặc lái; tiểu đội phó Đỗ Văn Lý cũng hạ một chiếc A37 khác bằng một quả đạn. Vượt qua nhiều ổ đề kháng ven đường, mũi đột kích vẫn kiên trì hướng về quân cảng Cam Ranh.
14 giờ ngày 13 tháng 4 năm 1975, Cam Ranh — quân cảng có vị trí chiến lược bậc nhất của đất nước — hoàn toàn được giải phóng, khép lại chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975. 16 giờ chiều hôm đó, tác giả cùng Hồ Đệ (Sư đoàn trưởng) và La Ngọc Châu (Chính ủy Sư đoàn 10) có mặt tại quân cảng, chia vui cùng bộ đội và chỉ đạo phối hợp với lực lượng địa phương giữ gìn an ninh, bảo vệ kho tàng, củng cố lực lượng cho nhiệm vụ tiếp theo.
Khoảnh khắc không quên
Lời thề giải phóng nhân dân các dân tộc Tây Nguyên khỏi ách nô lệ đã được thực hiện trọn vẹn. Trong hồi ức của tác giả, giây phút xúc động nhất mùa xuân năm ấy là khi đoàn quân từ núi rừng Tây Nguyên lần đầu đặt chân tới bờ biển miền Trung — không mấy ai trong số cán bộ, chiến sĩ đã nhiều năm gắn bó với cao nguyên mà không rơi nước mắt trước cảnh biển trời rộng mở. Tác giả nhắc lại rằng khi đó, trong Binh đoàn Tây Nguyên có lưu truyền những vần thơ của một người lính, viết về niềm hạnh phúc vỡ òa khi từ chiến khu gian khổ tiến về giải phóng những miền đất trù phú, và trong niềm vui chiến thắng ấy, đồng đội vẫn không quên tưởng nhớ những người đã ngã xuống dọc con đường đuổi giặc để có được ngày hôm nay.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.