Kỳ 32: Trận then chốt thứ hai
Nhiều cuốn sách viết về trận Buôn Ma Thuột vẫn lấy mốc 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975 thời điểm ta cắm cờ lên sở chỉ huy sư đoàn 23 làm giờ giải phóng hoàn toàn thị xã. Nhưng với những người trực tiếp tham chiến thì đến trưa 11 tháng 3 và nhiều ngày sau đó, cuộc chiến vẫn chưa dứt: trong hơn 8.000 quân địch, phần lớn vẫn còn ẩn nấp trong thị xã, trung đoàn 53 vẫn đóng nguyên trong căn cứ, và ngay chiều 12 tháng 3, sư đoàn 23 ngụy đã bắt đầu đổ quân xuống phía đông thị xã. Vì vậy đài phát thanh khi đó chưa dám công bố Buôn Ma Thuột đã được giải phóng đó mới chỉ là một thắng lợi quan trọng, chưa phải trọn vẹn.
Căn cứ trung đoàn 53 — cứ điểm cuối cùng
Căn cứ trung đoàn 53 thực chất là doanh trại chung của hai trung đoàn 44 và 53, nằm đông nam sân bay Hòa Bình, cách trung tâm thị xã 10km, phòng ngự cực kỳ kiên cố với 7 hàng rào kẽm gai xen bãi mìn, tường đất cao dày cắm sẵn lô cốt, hầm chỉ huy đổ bê tông chìm dưới đất. Rút kinh nghiệm từ trận Kon Tum năm 1972 khi địch dùng sân bay làm cửa ngõ đưa viện binh giành lại thị xã Bộ tư lệnh chiến dịch xác định phải đánh chiếm sân bay Hòa Bình và căn cứ 53 ngay từ đầu. Do hạn chế về bảo đảm nên nhiệm vụ này chỉ giao cho trung đoàn đặc công 198. Lúc 2 giờ 10 phút ngày 10 tháng 3, trung đoàn nhanh chóng chiếm được sân bay, nhưng khi đánh vào căn cứ 53 thì gặp phản kích dữ dội, bị đánh bật ra, một số chiến sĩ bị thương không kịp rút đã bị địch bắt và tra tấn dã man, có người bị thiêu sống.
Vì căn cứ 53 còn tồn tại đồng nghĩa sân bay Hòa Bình có nguy cơ bị chiếm lại làm bàn đạp phản công, Bộ tư lệnh điều trung đoàn 149 Sư đoàn 316 vào cuộc. Hai đợt tiến công ngày 14 và 15 tháng 3 đều không thành, đợt sau còn bị máy bay địch đánh trúng đội hình gây thương vong. Trong khi đó, địch tiếp tục tăng viện: một đại đội thám kích sư đoàn 23 đổ bộ trực thăng, trung đoàn 45 ngụy cũng hạ cánh gần đó, cho thấy rõ ý đồ phản kích đường không để giành lại Buôn Ma Thuột.
Chiều 16 tháng 3, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 quyết định dùng trung đoàn 66, tăng cường một đại đội xe tăng T54, để dứt điểm căn cứ 53. Trung đoàn trưởng Nguyễn Đình Kiệp đích thân dẫn cán bộ trinh sát đi trước. Sau 3 giờ chiến đấu ác liệt, tiểu đoàn 7 do Hoàng Ngọc Toái chỉ huy, Phạm Quang Vinh làm chính trị viên, cùng tiểu đoàn 9 do Bạch Công Nghĩa chỉ huy, Phạm Chào làm chính trị viên, phối hợp một bộ phận trung đoàn 149 đánh từ hướng tây nam, đã làm chủ hoàn toàn căn cứ 53. Đến lúc này, Buôn Ma Thuột mới thực sự được giải phóng trọn vẹn.
Xóa sổ sư đoàn 23 tại Phước An
Lường trước khả năng địch phản kích, ngay sau khi kết thúc trận Đức Lập, Sư đoàn 10 đã được lệnh hành quân gấp về phía đông Buôn Ma Thuột. Do từng nhiều lần đụng độ nhau ở Kon Tum, Sư đoàn 10 và sư đoàn 23 ngụy hiểu khá rõ điểm mạnh yếu của nhau: trung đoàn 45 hay đánh bất ngờ, trung đoàn 53 cứ ra quân là pháo bắn dồn dập dễ nhận biết, còn trung đoàn 44 thường làm lực lượng dự bị.
Ngày 12 tháng 3, được không quân yểm trợ, trung đoàn 45 ngụy nhảy dù xuống điểm cao 581 đông bắc căn cứ 53, phối hợp tàn quân liên đoàn biệt động 21. Đến ngày 15 và 16, địch tiếp tục ném trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 23 xuống Phước An. Nhưng ngày 14 tháng 3, trung đoàn 24 Sư đoàn 10 cùng đại đội thiết giáp 5, được pháo chiến dịch chi viện, đã đánh tan tiểu đoàn 2 địch tại điểm cao 581 rồi đánh tiếp vào tiểu đoàn 1 trung đoàn 45, khiến tàn quân phải co về đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại. Sáng 16 tháng 3, bộ binh và xe tăng ta tiếp tục đánh tan trung đoàn 45 và liên đoàn 21 biệt động tại đây.
Tàn quân dồn về Phước An hình thành một cụm lớn gồm phần lớn trung đoàn 44, 45, liên đoàn 21 và sở chỉ huy sư đoàn 23, do Lê Trung Tường chỉ huy. Ngày 17 tháng 3, Sư đoàn 10 dùng các trung đoàn 24, 28 cùng pháo binh và xe tăng trung đoàn 273 mở đợt tiến công quyết định. Lê Trung Tường vội lên trực thăng UH1 tháo chạy nhưng bị phòng không ta bắn rơi, bị thương và được lính cõng chạy trốn. Trong hai ngày 17-18 tháng 3, Sư đoàn 10 diệt gần 500 tên, bắt sống 1.600 tên, thu 1.800 súng. Nhiều lính địch hoảng loạn đến mức cởi bỏ quân phục, mặc thường phục chạy trốn về Chu Cúc. Ngày 18 tháng 3, trung đoàn 25 đón đầu chặn địch rút chạy, trung đoàn 28 truy kích trận cuối cùng, về cơ bản xóa sổ sư đoàn 23 ngụy, giải phóng vùng đông bắc tỉnh Đắc Lắc.
Chỉ trong 5 ngày, từ 14 đến 18 tháng 3, qua 4 trận đánh trên quãng đường gần 50km, Sư đoàn 10 đã tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn được mệnh danh "những thiên thần lịch sử" mà chính quân ngụy từng phong tặng năm 1973.
Chiến thắng lan tỏa thành phong trào nổi dậy: bọn phòng vệ dân sự ra hàng nộp vũ khí, nhân dân phá tan 13 khu dồn, 35 ấp chiến lược, giải phóng 70 buôn và 11 dinh điền, giải tán ngụy quyền cơ sở. Cùng ngày 18 tháng 3, Ủy ban quân quản tỉnh Đắc Lắc được thành lập do Y Blốc làm chủ tịch, Lê Chí Quyết làm bí thư đảng ủy, ra mắt nhân dân tại khu chùa xã Lạc Giao. Công tác đầu tiên là thiết lập chính quyền cơ sở việc không hề đơn giản, nhiều nơi phải làm lại hai ba lần tiếp đó là khôi phục điện nước, ổn định đời sống. Hàng nghìn thanh niên các trường Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ tham gia cứu thương, thu vũ khí, giữ trật tự; phong trào phụ nữ vận động chồng con theo địch trở về, tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Các đoàn cán bộ tiếp quản mọi ngành nhanh chóng triển khai công tác, trong khi Tỉnh ủy đã kịp huy động hàng trăm lái xe cùng 250 xe tải, xe ca để phục vụ bước tiến tiếp theo của chiến dịch về Duyên Hải và Nam Bộ.
Sai lầm chiến lược dẫn tới sụp đổ
Nếu Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu, thì việc xóa sổ nhanh gọn sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động 21 chính là trận then chốt thứ hai, gây chấn động không chỉ ở cấp sư đoàn, quân đoàn mà lan tới tận đầu não ngụy quyền Sài Gòn từ sai lầm chiến thuật dẫn đến sai lầm chiến lược, và thất bại trở thành điều tất yếu.
Ngày 14 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu bay ra Cam Ranh nghe Phạm Văn Phú báo cáo, cùng dự có Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên và Đặng Văn Quang. Phú trình bày tình hình bất lợi khắp quân khu 2: viện binh giải tỏa Buôn Ma Thuột bị đẩy lùi, Kon Tum và Plây Cu bị đánh mạnh, phi trường Cù Hanh bị pháo kích liên tục, thiết đoàn kỵ binh mất 12 xe, còn ở Bình Định phi trường Phù Cát cũng bị uy hiếp. Trước câu hỏi của Thiệu, Phú bày tỏ hy vọng có thể cứu vãn quân khu nếu được tăng viện, nhưng Cao Văn Viên xác nhận không còn lực lượng dự bị. Khi Thiệu hỏi liệu có thể cầm cự được bao lâu nếu không có viện binh, Phú xin chuyển sang chỉ xin bổ sung quân số bù tổn thất, đồng thời tuyên bố sẽ ở lại Plây Cu đến cùng. Nhưng Thiệu gạt phăng, cho biết quân viện đã cạn kiệt, chiến sự khắp nơi còn ác liệt hơn cả năm 1968 và 1972, nên quyết định bỏ Kon Tum, Plây Cu để rút quân về giữ vùng đồng bằng ven biển, nơi tiếp tế thuận lợi hơn. Khi Thiệu hỏi có thể rút theo đường 19 không, Cao Văn Viên cảnh báo trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, chưa từng có lực lượng nào rút theo con đường này mà không bị tiêu diệt.
Cuối cùng, cả ba thống nhất một phương án liều lĩnh: rút lui theo tỉnh lộ 7 con đường bỏ hoang lâu ngày, hư hỏng nặng, đoạn từ đông Cheo Reo về Phú Yên cây cối um tùm, cầu sập nhiều nhưng vẫn có thể sửa để dùng tạm với hy vọng tạo được yếu tố bất ngờ.
Tối 14 tháng 3, Phạm Văn Phú triệu tập họp khẩn tại bộ tư lệnh quân đoàn 2, thông báo lại quyết định bí mật từ cuộc họp 5 người ở Cam Ranh. Khi chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, người phụ trách kế hoạch rút lui, hỏi có nên báo cho các tỉnh trưởng và dân chúng biết hay không, Phú trả lời rằng theo lệnh của Thiệu thì không được thông báo — ai biết thì tự rút, không biết thì ở lại, dùng lực lượng địa phương chặn hậu để đánh lạc hướng đối phương và bảo đảm bí mật cho cuộc rút chạy.
Thực hiện kế hoạch, Phú điều liên đoàn biệt động 6 và 23 tăng cường cho lữ đoàn kỵ binh 2 bảo vệ đoạn từ ngã ba Mỹ Trạch đến quận Sơn Hòa, yểm trợ công binh sửa đường bắc cầu; đoạn còn lại giao quân địa phương Phú Bổn, Phú Yên. Vẫn chưa yên tâm, ông ta rút thêm liên đoàn biệt động 7 từ Kon Tum về trước để án ngữ đoạn đường từ đông Cheo Reo đến đèo Tu Na. Đêm 14 rạng 15 tháng 3, sư đoàn 6 không quân ngụy đã bí mật chuyển cơ quan quân đoàn 2 và lãnh sự quán Mỹ tại Plây Cu về Nha Trang. Dù cố ngụy trang bằng luận điệu đưa quân tái chiếm Buôn Ma Thuột, cuộc rút chạy vội vã vẫn không giấu được mắt dân chúng và binh lính thị xã Plây Cu lập tức hỗn loạn, giá vé máy bay đi Sài Gòn tăng vọt, người dân đổ xô chạy theo đoàn quân triệt thoái.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.