Trận đánh

Kỳ 31: Siết vòng vây Buôn Ma Thuột

• 22/07/2026 15:01

Đêm 18 tháng 2 năm 1975, đại tá Trịnh Tiêu, trưởng phòng tình báo quân khu 2 ngụy, nhận được nguồn tin: Sư đoàn 10 đã hành quân vào phía nam chuẩn bị đánh Đức Lập, Sư đoàn 320 sang tây Ea H'leo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn, và một lực lượng khác đang chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột. Nhận được tin này, Trịnh Tiêu báo cáo với Phạm Văn Phú rằng những hoạt động ở Kon Tum và Plây Cu chỉ là nghi binh, còn ý định thực sự của ta là đánh vào Buôn Ma Thuột. Phát hiện của cơ quan tình báo khiến Phú lo lắng, nghĩ đến việc đưa sư đoàn 23 trở lại Buôn Ma Thuột.

Nhưng cùng lúc, Phú lại nhận được thông báo của tình báo Mỹ khẳng định tình hình chưa có gì thay đổi, các đơn vị của ta vẫn ở chỗ cũ. Những tin tức trái ngược làm viên tướng ngụy đau đầu. Dù vậy, ngày 19 tháng 2, Phú vẫn quyết định rút bớt trung đoàn 45 từ Plây Cu về tây đường 40, khu vực tây Ea H'leo để sục sạo tìm Sư đoàn 320. Nhưng trước đó, Bộ tư lệnh chiến dịch đã kịp lệnh cho sư đoàn này lui về phía tây, chỉ để lại những tổ trinh sát bám địch, tuyệt đối tránh đụng độ.

Trước diễn biến phức tạp đó, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: địch có nghi ta chuẩn bị đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột, cắt đường 14 ở Thuần Mẫn, dựa trên một số bằng chứng riêng lẻ, nhưng vẫn chưa phát hiện được ý định và lực lượng thực sự của chiến dịch. Những hoạt động của địch mang tính rời rạc, cục bộ, tuy vậy vẫn cần chủ động đề phòng. Chủ trương đặt ra là kiên trì, khôn khéo giữ bí mật ý định và lực lượng ở hướng tác chiến chủ yếu Buôn Ma Thuột, đồng thời tích cực nghi binh trên hướng Kon Tum, Plây Cu để thu hút trung đoàn 45 quay về Plây Cu.

Thực hiện ý định trên, cơ quan tham mưu chiến dịch cho phát đi một bức điện giả với nội dung: địch đã bị lừa, cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột nên đã đưa trung đoàn 45 xuống phía nam. Bộ tư lệnh quân khu 2 ngụy nhận được bức điện này cùng lúc với các chỉ huy quân sự các tỉnh Tây Nguyên. Sau khi nhận điện, Phạm Văn Phú càng thêm hoài nghi về nguồn tin trước đó và dứt khoát từ bỏ ý định đưa sư đoàn 23 trở lại Buôn Ma Thuột.

Sau khi các đơn vị bộ binh, binh chủng đã triển khai an toàn ở hướng chính, ngày 1 tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 968 (mang danh nghĩa Sư đoàn 320) đánh nghi binh, tiến công loạt vị trí ngoại vi thị xã Plây Cu như đồn Tâm, chốt Mỹ, các cứ điểm trên dãy Chư Kra, Chư Gối, điểm cao 605, uy hiếp quận lỵ Thanh An và Thanh Bình. Tiếng súng và tiếng xe tăng gầm rú như báo hiệu một cuộc tiến công lớn vào Plây Cu đã bắt đầu.

Trong khi trung đoàn 45 ngụy đã lùng sục 10 ngày ở Ea H'leo mà không phát hiện được Sư đoàn 320, thì được tin sư đoàn này đang tiến công hướng tây Plây Cu. Không giấu nổi bực tức, Phạm Văn Phú ra lệnh đưa ngay trung đoàn 45 về tăng cường phòng thủ tây Plây Cu. Sáng 3 tháng 3, trung đoàn này vội vã hành quân trở về.

Đêm 3 rạng sáng 4 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cắt đứt đường 19. Trung đoàn 95A do Lê An chỉ huy, Trần Kiều làm chính ủy, tiến ra đường 19 tiêu diệt loạt vị trí địch, trong đó có căn cứ pháo binh Ia Dun. Đến chiều, trung đoàn đã làm chủ đoạn đường dài 20km từ ngã ba Plây Bôn đến ấp Phú Yên. Cùng ngày, Sư đoàn 3 Quân khu 5, dù vừa hành quân từ bắc Bình Định vào và gặp nhiều khó khăn về quân số, hậu cần, cũng đã đánh cắt đoạn đường từ đèo Thượng An đến cầu số 13, diệt 2 đại đội và tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 47 ngụy, diệt 316 tên, bắt sống 52 tên, thu 200 súng và 2 khẩu pháo 105 ly, làm chủ hoàn toàn đoạn đường.

Tin đường 19 bị cắt nhanh chóng truyền về Washington. Đêm 4 tháng 3, hãng thông tấn AP loan tin con đường tiếp tế chủ yếu của cao nguyên đã bị cắt đứt, các trận đánh tập trung ở Lệ Trung và Bình Khê, một căn cứ pháo binh 105 ly ở tây bắc Bình Khê đã bị đánh chiếm. Trước tình thế con đường huyết mạch bị cắt, Phạm Văn Phú tung liên đoàn biệt động quân số 4 và tiểu đoàn 3 ra phản kích trung đoàn 95A, đồng thời lệnh cho sư đoàn 22 ngụy từ bắc Bình Định vào đường 19 phản kích Sư đoàn 3.

Ở hướng đường 21, ngày 5 tháng 3, trung đoàn 25 do Lê Khắc Tâm chỉ huy, Nguyễn Ngãi làm chính ủy, tiến công một đoàn xe địch, làm chủ đoạn đường phía đông Chư Xuê, cắt đứt con đường chiến lược thứ hai nối Nha Trang với Buôn Ma Thuột. Địch phải điều chi đoàn 2 thiết giáp cùng học viên trường biệt động quân Dục Mỹ và hai tiểu đoàn bảo an đối phó. Việc mất đường 21 khiến Phạm Văn Phú một lần nữa băn khoăn về khả năng ta đang nghi binh, nên cử đại tá Vũ Thế Quang, phó tư lệnh sư đoàn 23, về Buôn Ma Thuột làm tư lệnh chiến trường nam Tây Nguyên.

Khoảng 17 giờ ngày 5 tháng 3, đoàn xe 15 chiếc chở Vũ Thế Quang trên đường vào Buôn Ma Thuột rơi vào ổ phục kích của trung đoàn 64 Sư đoàn 320 ở nam Ea H'leo. Tám chiếc đi đầu bị bắn cháy, bảy chiếc còn lại chạy thoát về Plây Cu, trong đó có xe của Quang.

Để dọn đường cho lực lượng ta triển khai ở bắc, tây bắc Buôn Ma Thuột, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 đánh Chư Xuê để kéo trung đoàn 53 ngụy ra đối phó. 6 giờ ngày 7 tháng 3, tiểu đoàn 3 trung đoàn 48 nổ súng, sau 40 phút diệt gọn Chư Xuê. Ngày 8 tháng 3, trung đoàn 48 do Lê Quang Bình chỉ huy, Đinh Hữu Tấn làm chính ủy, được tăng cường pháo, tiến công chi khu Cẩm Ga và quận lỵ Thuần Mẫn, sau 1 giờ 20 phút làm chủ hoàn toàn, diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát, bắt 121 tên, thu 200 súng và 18 xe quân sự. Ngày 9 tháng 3, trung đoàn 64 tiêu diệt hoàn toàn căn cứ Buôn Hồ. Ba trận Cẩm Ga, Chư Xuê, Buôn Hồ đã cắt đứt đường 14, con đường nối liền nam bắc Tây Nguyên.

Tại Buôn Ma Thuột, Vũ Thế Quang ra lệnh báo động, rút trung đoàn 53 về phòng thủ thị xã, đưa 1 tiểu đoàn tăng cường Đức Lập. Sáng 9 tháng 3, Phạm Văn Phú bay vào gặp Quang và đại tá tỉnh trưởng Đắc Lắc Nguyễn Trọng Luật, động viên cố giữ Buôn Ma Thuột bằng lực lượng hiện có. Khi Quang hỏi Việt Cộng sẽ bắt đầu đánh khi nào, Phú trả lời rằng có sớm cũng phải giữa tháng 4, và nhắc lại lời dặn của Nguyễn Văn Thiệu là nơi nào bị đánh thì cố giữ để có giá mặc cả tại Hội nghị Paris, đồng thời khẳng định bộ tổng tham mưu ngụy vẫn tin hướng tiến công chính của ta là Kon Tum và Plây Cu.

Ngay khi Phú vừa rời đi, sáng 9 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10, được tăng cường trung đoàn 40, tiến công chi khu và quận lỵ Đức Lập — tuyến phòng thủ gồm 5 cứ điểm liên hoàn trên đường 14. Được 15 khẩu pháo của trung đoàn 4 và trung đoàn 40 chi viện, chỉ sau hơn 3 giờ, trung đoàn 66 do Nguyễn Đình Kiệp chỉ huy, Nguyễn Chí Nguyện làm chính ủy, đã làm chủ căn cứ chỉ huy hành quân sư đoàn 23. Cùng lúc, tiểu đoàn 1 và 3 trung đoàn 28 do Nguyễn Đức Cẩm chỉ huy, Nguyễn Ngọc Xuân làm chính ủy, chiếm căn cứ Núi Lửa sau 45 phút. Do đánh đợt đầu chưa thành công vì nắm địch không chắc, chỉ huy Sư đoàn 10 tổ chức nắm lại tình hình trong đêm, mở đợt tiến công thứ hai sáng 10 tháng 3 mới giải quyết xong Đức Lập, sau đó phát triển đánh chiếm Đắc Sắc, Đức Minh và căn cứ Đắc Song. Sau 2 ngày, Sư đoàn 10 tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Đức Lập và Đắc Song, bắt hơn 100 tên, thu 14 khẩu pháo 105 ly, 20 xe tăng thiết giáp, nhanh chóng cơ động về đông Buôn Ma Thuột làm lực lượng dự bị.

Mờ sáng 9 tháng 3, tại Buôn Ma Thuột, Vũ Thế Quang nhận điện báo Đức Lập bị pháo kích mạnh, vội đến trung tâm hành quân cùng Nguyễn Trọng Luật theo dõi. 11 giờ trưa, Phạm Văn Phú bay tới họp khẩn với Lê Trung Tường, Phạm Văn Nghiên, Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật. Giữa cuộc họp, tin căn cứ 23 và Núi Lửa thất thủ ập đến. Phú kết luận Đức Lập không còn khả năng cứu vãn nên không tăng viện, chỉ hứa tăng 1 chi đội xe tăng và cho rút 2 tiểu đoàn ở Bản Đôn về bảo vệ ngoại vi thị xã. Đến lúc này, Phú vẫn chủ quan cho rằng ta đánh Đức Lập, uy hiếp Buôn Ma Thuột chỉ là nghi binh trước khi tập trung đánh Kon Tum, Plây Cu.

Nhưng điều bất ngờ lớn nhất đối với chỉ huy Mỹ – ngụy đã tới. 16 giờ ngày 9 tháng 3, từ các vị trí tập kết cách thị xã 15 đến 30km, 12 trung đoàn bộ binh và binh chủng đồng loạt xuất phát theo 5 mũi. Công binh đã mở sẵn hàng trăm km đường mới, cưa gốc cây ngụy trang kín để xe tăng chỉ cần húc nhẹ là có đường qua. Tổng chiều dài đường mới làm để vào Buôn Ma Thuột lên tới 336km, cùng 3 bến phà, 2 ngầm và nhiều bến vượt cho bộ binh.

Đúng 2 giờ 3 phút sáng 10 tháng 3 năm 1975, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho trung đoàn đặc công 198 do Trần Kinh chỉ huy, Nguyễn Văn Tích làm chính ủy, tiến công thị xã. Sau 2 giờ, bộ đội đặc công chiếm hai phần ba sân bay thị xã, làm chủ đường Phan Chu Trinh, đánh chiếm khu cảnh sát, sân bay Hòa Bình và khu kho Mai Hắc Đế, mở hành lang cho mũi thọc sâu. Các trận địa pháo 105, 122, 130 ly cùng hỏa tiễn H12, ĐKB bắn phá dữ dội sở chỉ huy sư đoàn 23 kéo dài đến 6 giờ 30 phút.

Từ hướng đông bắc, tiểu đoàn 5 trung đoàn 95B cùng xe tăng đánh chiếm Ngã Sáu và tiểu khu Đắc Lắc. Hướng tây bắc, trung đoàn 148 Sư đoàn 316 do Đỗ Thanh Trì chỉ huy, Nguyễn Khai Mẫn làm chính ủy, chiếm điểm cao Chu Ebua rồi tiến vào khu thiết giáp, pháo binh. Hướng tây nam, trung đoàn 174 do Đào Trọng Lịch chỉ huy, Nguyễn Văn Xướng làm chính ủy, chiếm điểm cao Chu Duê, đánh vào kho xăng sư đoàn 23. Hướng tây, tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 do Trương Quang Oánh chỉ huy, cùng xe tăng trung đoàn 273 dưới sự chỉ huy chung của Trương Văn Việt, hình thành mũi thọc sâu theo đường 429 vào sở chỉ huy sư đoàn 23. Hướng nam, trung đoàn 149 do Nguyễn Văn Đạo chỉ huy, Nguyễn Văn Hoạt làm chính ủy, gặp địa hình trống trải và bị máy bay oanh tạc, nhưng tiểu đoàn 9 vẫn chiếm được quận lỵ Hòa Bình lúc 11 giờ 30. Các trung đoàn cao xạ 232, 234 bắn rơi 6 máy bay A37, buộc không quân địch phải nâng độ cao. Cùng lúc, đại đội 1 tiểu đoàn 301 và các đội xung kích thị xã truy quét tề điệp, bảo vệ trật tự trong thị xã, còn đoàn cán bộ vận động chính trị do Ama H'oanh dẫn đầu vào chùa Khải Đoan, được cơ sở cũ trong thị xã đón tiếp, dẫn đường chỉ điểm ác ôn, kêu gọi ngụy quân đầu hàng.

Trong ngày chiến đấu đầu tiên, nhiều tấm gương nổi bật: tiểu đoàn trưởng Trương Quang Oánh hy sinh khi xông lên chỉ huy giữa lúc xe tăng sụp lầy và máy bay oanh tạc; đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy Nguyễn Đức Lập và Kiều Hải Âu cầm cờ làm lộ tiêu cho xe tăng qua cửa mở; Bùi Đức Chính cùng 9 chiến sĩ hy sinh ở khu vực cột cờ khu truyền tin; trung đội trưởng Nguyễn Quang Trung ôm bộc phá xông lên mở rộng cửa mở dưới hỏa lực địch.

Đêm 10 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: ngày đầu đã chiếm được sân bay thị xã và tòa tỉnh trưởng, khống chế sân bay Hòa Bình, các mũi đánh tốt, riêng mũi phía nam gặp khó khăn. Hệ thống chỉ huy phòng ngự địch rối loạn, binh lính hoang mang cực độ dù bọn đầu sỏ vẫn cố chống cự. Chủ trương đề ra: tập trung tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại, sẵn sàng đánh phản kích, đồng thời tiêu diệt các căn cứ bàn đạp Bản Đôn, Chư Nga, Buôn Hồ, đưa cao xạ áp sát bảo vệ đội hình và nhân dân.

Từ 6 đến 8 giờ sáng 11 tháng 3, pháo binh chiến dịch bắn cấp tập suốt 2 tiếng. Ngay khi pháo ngừng, các mũi binh chủng hợp thành xung phong vào sào huyệt cuối cùng của địch giữa lúc máy bay ném bom ngay trên đường phố và hỏa lực địch bắn như trút đạn. Trung đoàn 95B và đại đội xe tăng 4 từ tiểu khu Đắc Lắc hợp điểm với mũi phía tây. Xe tăng 980 do Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy dẫn đầu húc đổ cổng chính, cùng xe của Bùi Mạnh Hùng, Phạm Hồng Vách dẫn bộ đội đột phá vào trung tâm chỉ huy sư đoàn 23.

Đến 11 giờ ngày 11 tháng 3, mũi thọc sâu Sư đoàn 10 cùng trung đoàn 95B, trung đoàn 174 hợp điểm tại sư đoàn bộ sư đoàn 23. Tổ cắm cờ gồm Phạm Văn Vy, Đàm Duy Tộ, Nguyễn Văn Thắng cắm lá cờ Quyết thắng lên trung tâm chỉ huy địch. Dưới sự chỉ huy của Ngô Huy Chuyển, bộ đội thu toàn bộ cờ hiệu, con dấu, bản đồ còn nguyên trên bàn làm việc của Vũ Thế Quang. Đại tá Nguyễn Trọng Luật bị bắt cùng 12 sĩ quan khi tìm đường trốn vào rừng cà phê. Riêng Vũ Thế Quang chạy thoát một mình, bỏ cả giày lẫn mũ, đến tối cùng ngày bị trung đoàn 174 bắt khi vượt qua buôn A Lê 2. Trên đường áp giải qua phà sông Sê-rê-pốc, nhìn cảnh phà chở nhiều xe quân sự cùng lúc, ông ta thốt lên: "Chúng tôi thua là phải." Nhân cơ hội đó, 315 tù chính trị ở nhà tù Buôn Ma Thuột đã nổi dậy phá cửa chạy thoát.

Đêm 11 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định địch mất thị xã nhưng các căn cứ bàn đạp vẫn còn, có thể đổ quân phản kích, hướng chủ yếu sẽ là đông bắc. Lệnh cho trung đoàn 198 và 148 giữ địa bàn, củng cố thắng lợi; trung đoàn 24 phối hợp tiểu đoàn 6 trung đoàn 95B diệt căn cứ 45; tiểu đoàn 5 trung đoàn 24 diệt Chư Nga; tiểu đoàn 21 Đoàn 559 giải phóng Bản Đôn; trung đoàn 149 và một bộ phận trung đoàn 198 diệt căn cứ Hòa Bình.

Ngày 12 tháng 3, trung đoàn 24 và tiểu đoàn 6 trung đoàn 95B cùng xe tăng tiến công căn cứ 45, diệt và bắt 350 tên, thu và phá hủy 245 xe quân sự, thu hơn 400 súng. Chiều cùng ngày, trung đoàn 174 đánh chiếm cầu Thọ Thành, diệt và bắt 300 tên, thu hàng trăm xe. Ở hướng bắc, trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, diệt căn cứ Chu Pao, thu 4 pháo 105 ly, giải phóng ấp Đạt Lý, thu trên 500 súng, làm chủ đường 14. Các đội công tác và cơ sở tại chỗ phát động quần chúng nổi dậy giải tán bộ máy kìm kẹp, thu hàng trăm súng, giải phóng hơn 60 buôn ấp, dinh điền với trên 12 nghìn dân Kinh – Thượng.

Đêm ngày 12 tháng 3 năm 1975, anh Văn Tiến Dũng, đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chuyển điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, bức điện có đoạn: “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, anh chị em công nhân viên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng mưu trí và sáng tạo, táo bạo và khẩn trương, giành nhiều thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Cần kịp thời nắm thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Trong điện, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương còn chỉ thị: “Ở Tây Nguyên cần hết sức chú trọng công tác tiếp quản, chú trọng chính sách dân tộc, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc... Nếu có ngoại kiều ở Buôn Ma Thuột cần đối đãi tử tế và có thể thả họ sớm”. Cũng trong bức điện này Thường vụ Quân ủy Trung ương đã quyết định phong quân hàm cấp đại tá cho anh Blốc phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đắc Lắc.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.


    Nổi bật

        Mới nhất

        Kỳ 31: Siết vòng vây Buôn Ma Thuột
        • Mặc định