Kỳ 27: Kế hoạch nghi binh
Mặc dù bị tổn thất nặng nề trong năm 1974, nhưng lực lượng địch trên toàn miền Nam vẫn còn rất đáng kể: hơn một triệu ba trăm ngàn quân, trong đó có 495 ngàn quân chủ lực, 475 ngàn cảnh sát, mật vụ, quân địa phương, 381 ngàn quân phòng vệ dân sự, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động với hơn 2.000 xe tăng, xe bọc thép, 1.500 khẩu pháo lớn, 6 sư đoàn không quân. Chúng bố trí lực lượng như sau:
Quân khu 1, có 5 sư đoàn chủ lực, 4 liên đoàn biệt động quân, 21 tiểu đoàn pháo binh (418 khẩu), 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng, xe bọc thép (419 xe), 1 sư đoàn không quân (96 máy bay).
Quân khu 2 (gồm cả Tây Nguyên), có 2 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn pháo binh (362 khẩu), 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng, xe bọc thép (477 xe), 2 sư đoàn không quân (250 máy bay).
Quân khu 3, có 3 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội pháo (376 khẩu), 7 thiết đoàn và 14 chi đội xe tăng, xe bọc thép (655 xe), 2 sư đoàn không quân (250 máy bay).
Quân khu 4, có 3 sư đoàn chủ lực, 12 liên đội bảo an, 15 tiểu đoàn pháo binh (380 khẩu), 5 thiết đoàn và 17 chi đội xe tăng, xe bọc thép (493 xe), 1 sư đoàn không quân (72 máy bay), 580 tàu xuồng các loại.
Trên chiến trường Tây Nguyên, đầu năm 1975 địch có: quân đoàn bộ quân đoàn 2, sư đoàn 23 gồm 3 trung đoàn (44, 45, 53), 7 liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25, 4, 6), 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép (380 xe), 8 tiểu đoàn, 7 đại đội, 25 trung đội pháo binh (250 khẩu), 1 sư đoàn không quân (không đoàn 702), 150 máy bay (24 máy bay chiến đấu).
Những người chỉ huy quân đội Mỹ – ngụy ở Sài Gòn cho rằng đầu năm 1975 ta sẽ mở chiến dịch ở bắc Tây Nguyên, đánh vào thị xã Kon Tum. Vì vậy, địch lấy Kon Tum – Plây Cu làm khu vực phòng ngự chủ yếu. Chúng đã bố trí ở khu này gần như toàn bộ lực lượng chủ lực ở Tây Nguyên, trừ trung đoàn 53 giữ thị xã Buôn Ma Thuột.
Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta (tháng 10 năm 1973) khẳng định: Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công. Tháng 10 năm 1974 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền trong thời gian 1975–1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta. Và nhất trí thông qua phương án chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công có ý nghĩa chiến lược trong năm 1975. Kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm là sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng, giành thắng lợi ngày càng lớn, tạo điều kiện để giành thắng lợi hoàn toàn. Kế hoạch gồm hai bước. Bước một, năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp trên toàn miền Nam tạo điều kiện thuận lợi để thực hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong năm 1976. Bước hai, năm 1976 là năm tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Bên cạnh chiến lược cơ bản hai năm, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương còn dự kiến “Kế hoạch thời cơ”. Tinh thần cơ bản của kế hoạch này là khi thời cơ chiến lược đến sớm thì có thể giải phóng miền Nam trong năm 1975.
Trước khi vào chiến trường anh Vũ Lăng được lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu gợi ý sơ bộ về nhiệm vụ tác chiến năm 1975. Ý đồ chiến lược của trên và nhiệm vụ của khối chủ lực Tây Nguyên được sáng tỏ dần. Tháng 9 năm 1974, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên ở chiến dịch Nam Tây Nguyên. Khu vực tác chiến chủ yếu là Đức Lập. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chúng tôi đã nghiên cứu quán triệt phổ biến cho các ngành liên quan chuẩn bị.
Cuối tháng 10 năm 1974, anh Nguyễn Quốc Thước, phụ trách Tham mưu trưởng được Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên cử ra Hà Nội báo cáo tình hình và nhận chỉ thị của Bộ. Ngày 6 tháng 11, anh Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng giao nhiệm vụ cho Mặt trận Tây Nguyên. Anh Dũng nói:
– Nhiệm vụ lần này của Tây Nguyên được mở rộng phạm vi, quy mô và mục tiêu cụ thể của cuộc tiến công. Đó là: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng quân địch, diệt, làm bị thương từ 4 đến 5 vạn tên, trong đó diệt từ 3 đến 4 trung đoàn, liên đoàn bộ binh, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng từ 1 đến 2 sư đoàn chủ lực ngụy, diệt nhiều tiểu đoàn bảo an, trung đội dân vệ, làm tụt nhanh quân số của chúng. Mở rộng hành lang chiến lược từ đường 14 qua Gia Nghĩa xuống đường 20 nối liền với miền Đông Nam Bộ và từ Tây Nguyên xuống ba tỉnh Khu 5 (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa). Giải phóng nhân dân và phần lớn vùng đất bằng nam Plây Cu, Cheo Reo và xung quanh Buôn Ma Thuột, đánh bại kế hoạch nống lấn giải tỏa của địch, giữ vững, phát huy quyền làm chủ chiến trường, thực hiện chia cắt chiến lược. Tích cực phối hợp với mặt trận đánh phá “bình định” ở đồng bằng. Cụ thể diệt từ 3 đến 4 tiểu khu, chi khu, từ 1 đến 2 tỉnh lỵ (Gia Nghĩa, Cheo Reo, Gia Nghĩa là chủ yếu). Đánh phá giao thông và hậu cứ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm cho tiềm lực kinh tế địch giảm sút trầm trọng. Khi có thời cơ, thực hiện cắt hẳn các đường 14, 19, 21, trọng điểm là đường 19. Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã. Ra sức xây dựng cơ sở tự vệ mật, các tổ chức biệt động, diệt ác ôn đầu sỏ, tạo thế làm chủ cơ sở. Xây dựng ba thứ quân, xây dựng vùng giải phóng, đường chiến dịch, đường chiến lược, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo.
Anh Văn Tiến Dũng nhấn mạnh: Những nhiệm vụ trên đều có liên quan mật thiết với nhau, nhiệm vụ này làm tiền đề, điều kiện cho nhiệm vụ kia phát triển và ngược lại. Nhưng nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giải phóng địa bàn là nhiệm vụ quan trọng số một có tính chất quyết định.
Ngày 12 tháng 11, anh Nguyễn Quốc Thước đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tư lệnh. Đại tướng nói với anh Quốc Thước:
– Anh Dũng đã dặn rồi, tôi nói thêm, chiến dịch này rất kiên quyết, trường hợp nào cũng phải làm cho được.
Ở Tây Nguyên địa hình tốt, địch phân tán, diệt địch trong công sự vững chắc cũng được, nhưng tốt nhất là diệt viện. Hai giai đoạn của chiến dịch có thể dài nhưng cũng có thể gần nhau. Trên những hướng phối hợp thường có thể thắng lớn. Khi địch điều lực lượng chi viện hoặc nó rung chuyển thì thời cơ thắng lớn. Các đồng chí cần nắm vững 16 chữ của phương châm: Bất ngờ, kiên quyết, lợi dụng thời cơ phát triển nhanh, phối hợp mạnh, nhịp nhàng.
Tóm lại các đồng chí cần xây dựng kế hoạch cơ bản và kế hoạch phát triển trong thời cơ tốt. Trường hợp này phải vận động nhanh không phải tuần tự. Bố trí lực lượng phải cơ động. Nếu chiến dịch thắng lợi thì ở Tây Nguyên lực lượng địch có thể thay đổi. Nếu địch rút sở chỉ huy thì phải tổ chức đánh cắt giao thông và phá sân bay.
Vì vậy, về chiến dịch và chiến thuật, cần có kế hoạch tác chiến đánh địch trong công sự và đánh quân viện, đồng thời có kế hoạch phát triển nhanh (nên tổ chức 1 trung đoàn bộ binh cùng pháo binh và xe cơ giới), táo bạo truy kích vì địch lúc rút chạy rất sơ hở, đánh dễ vỡ.
Giữa lúc Tây Nguyên đang khẩn trương chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu ở hướng Gia Nghĩa thì ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân và dân Đông Nam Bộ đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Quân chủ lực ngụy ở ạt phản công hòng “tái chiếm Phước Long”, nhưng tất cả mọi cố gắng của chúng đều bị quân ta đánh bại. Cuối cùng cả Mỹ lẫn ngụy đành nuốt hận chịu mất Phước Long.
Qua sự kiện Phước Long càng khẳng định nhận định của Bộ Chính trị là chính xác: “Quân ngụy đã suy yếu nghiêm trọng không đủ sức phản kích chiếm lại những vùng đã mất và Mỹ đã rút quân ra khỏi miền Nam thì khó có khả năng đưa quân nhảy vào lại miền Nam, và dù chúng can thiệp đến thế nào đi nữa thì cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn”. Trên cơ sở các nhận định trên, Trung ương đã hạ quyết tâm chiến lược lịch sử: Mở cuộc Tổng tiến công chiến lược trên quy mô toàn miền Nam nhằm tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ ngụy quân, đập tan toàn bộ ngụy quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.