Trận đánh

Kỳ 26: Khai thông đường 220 chiến lược

• 26/06/2026 11:29

Ngày 20 tháng 11 năm 1973, tôi được trên điều về Mặt trận giữ chức chính ủy thay anh Trần Thế Môn đi nhận nhiệm vụ mới. Cùng thời gian này Bộ cử anh Vũ Lăng vào Tây Nguyên giữ chức Tư lệnh mặt trận thay anh Hoàng Minh Thảo. Đầu tháng 12 năm 1973, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chúng tôi chủ trương tách trung đoàn 95 ra khỏi đội hình. Sư đoàn 10 cơ động về hướng đông làm nhiệm vụ chủ lực tại chỗ, mở mặt trận mới, thường xuyên đánh giao thông địch ở đoạn đường 19 chạy qua đèo An Khê – Mang Yang.

Để bảo đảm vật chất và binh khí kỹ thuật cho lực lượng luồn sâu ở phía đông, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định mở con đường 220 từ Võ Định qua Kon Rẫy vòng về phía đông. Lần đầu tiên ta dùng cơ giới thi công con đường ngay sát thị xã Kon Tum, làm cho quân địch vô cùng hoang mang. Chúng liên tiếp cho lực lượng ra ngăn chặn phá hoại. Nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công, ta sử dụng trung đoàn 28 tăng cường tiểu đoàn 6 trung đoàn 24, đã đánh một trận xuất sắc, diệt gọn tiểu đoàn 3 trung đoàn 40 ngụy ở khu vực Kon Rẫy.

Đầu tháng 3 năm 1974, địch đưa tiếp tiểu đoàn 95 và 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 62 ngụy ra khu vực Kon Rẫy ngăn ta mở đường 220. Có điều ra quân lần này tiểu đoàn 95 ngụy đã áp dụng chiến thuật “mạng nhện, co giãn”, đóng quân phân tán hàng chục điểm và thường xuyên di chuyển để tránh bị tiêu diệt.

Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 28 vừa tổ chức đột phá dưới sự chi viện của pháo binh bắn thẳng vừa tổ chức lực lượng hình thành thế vây nhiều tầng trước khi đột phá. Với cách đánh này, trung đoàn 28 và tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24) đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 95 và 2 đại đội của tiểu đoàn 62, diệt 421 tên, bắt 250 tên.

Từ sau trận này, quân địch không dám mò ra vùng Kon Rẫy nữa. Đường 220 tiếp tục vươn dài xuống phía bắc đèo Mang Yang, An Khê. Đây là con đường vu hồi hết sức quan trọng về chiến lược đối với chiến trường. Đường 220 còn là nguồn cung cấp và quyết định đến sức chiến đấu của trung đoàn 95 và các đơn vị binh chủng kỹ thuật ở hướng này.

Ngày 6 tháng 1 năm 1974, anh Văn Tiến Dũng – Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng điện cho chúng tôi, bức điện có đoạn:

“Chúng tôi rất hoan nghênh những cố gắng của các anh đưa trung đoàn 95 sang phía đông, đánh phá thường xuyên trên đường 19, nó là thế trận rất hiểm và lâu dài”.

Đường 220 chỉ cách thị xã Kon Tum 20 km nên địch quyết tâm đánh phá. Cả vùng đông bắc thị xã Kon Tum chỉ còn trơ trọi một cứ điểm duy nhất là Kon Rốc trên điểm cao 1227 – nơi đồn trú của quân thám báo, biệt động thường xuyên càn phá ta làm con đường này.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định phải nhổ nốt căn cứ Kon Rốc. Ngày 3 tháng 4 năm 1974, trung đoàn 24 được pháo binh bắn thẳng chi viện sau 2 giờ chiến đấu đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn bảo an 280.

Nếu như trước đây, Sư đoàn 10 chỉ có một trung đoàn 66 đánh tốt công sự vững chắc thì nay các trung đoàn 28, 24 đều có thể đánh và đánh tốt hình thức chiến thuật này.

Cho đến thời điểm tháng 4 năm 1974, toàn tỉnh Kon Tum chỉ còn lại 3 căn cứ địch nằm sâu trong vùng giải phóng của ta là Đắc Pét án ngữ trên đường 14, sát biên giới Việt – Lào; chi khu quận lỵ Măng Đen và quận lỵ Măng Buk. Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ trương giao cho Sư đoàn 10 một mặt giữ vững trận địa phòng ngự bắc thị xã Kon Tum (trung đoàn 24 đảm nhiệm), mặt khác dùng 2 trung đoàn 66 và 28 tiêu diệt căn cứ Đắc Pét và căn cứ Măng Đen, sử dụng bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum bao vây bức rút quận lỵ Măng Buk.

Thực hiện chủ trương trên, ngày 15 tháng 5 năm 1974, trung đoàn 66 được pháo binh và xe tăng chi viện, chỉ trong 4 giờ đồng hồ đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn biệt động quân 88 trong căn cứ Đắc Pét. Trong số 403 sĩ quan binh lính địch bị bắt làm tù binh có tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn biệt động quân 88 Vũ Ngọc Di. Phối hợp với trung đoàn 66, trung đoàn 3 (Quân khu 5) tiến công giải phóng quận lỵ Đắc Pét. Toàn bộ khu vực Đắc Pét được giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta mở thông đường vận tải chiến lược theo đường 14 (Đông Trường Sơn).

Cùng thời gian này, trên hướng Đắc Lắc, trung đoàn 25 tiến công tiêu diệt căn cứ Ia Súp, giải phóng toàn bộ nhân dân trong khu vực. Trên hướng bắc Kon Tum, trung đoàn 28 sau gần một ngày chiến đấu đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Măng Đen, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ ban chỉ huy tiểu khu Chương Nghĩa và ban chỉ huy tiểu đoàn bảo an 254 ngụy, diệt 226 tên, bắt 168 tên, trong đó có tên trung tá chỉ huy trưởng và 25 sĩ quan khác, thu toàn bộ vũ khí và quân trang, quân dụng trong căn cứ (có 2 pháo 105 ly). Phối hợp với trung đoàn 28, bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum bao vây bức rút quận lỵ Măng Buk, giải phóng toàn bộ nhân dân trong vùng.

Đến tháng 10 năm 1974, trên chiến trường Tây Nguyên địch bị dồn gọn lại trong các thị xã và một số vị trí quan trọng trên trục đường giao thông huyết mạch 14, 19, 21. Vùng giải phóng Tây Nguyên được mở rộng và nối liền thành một vùng căn cứ tương đối hoàn chỉnh từ bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc, nối liền đường hành lang chiến lược từ miền Bắc vào tới chiến trường Nam Bộ.

Như vậy, sau gần hai năm chiến đấu đánh địch lấn chiếm và xây dựng lực lượng vững mạnh toàn diện theo phương thức tác chiến tập trung hiệp đồng quân binh chủng quy mô vừa và lớn (cả về chính trị, tư tưởng, trình độ chiến, kỹ thuật, tổ chức biên chế), ra sức thiết bị chiến trường, xây dựng hậu phương trực tiếp rộng bao la có dung lượng rất lớn, kết hợp với sự chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc, chiến trường Tây Nguyên đã có bước biến đổi căn bản.

Tương quan lực lượng về quân sự, chính trị ta đã hơn hẳn địch. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã lập được thế trận tiến công vững chắc, hình thành thế trận bao vây các cơ quan đầu não của địch ở cả ba tỉnh. Quân đoàn 2 ngụy ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động, tinh thần và khả năng chiến đấu của chúng sa sút nghiêm trọng, không còn đủ sức làm nòng cốt cho kế hoạch “bình định”, lấn chiếm ở Tây Nguyên.

Thực tiễn đó mở ra cho Tây Nguyên những thuận lợi cơ bản để tạo điều kiện và thời cơ mới thực hiện tốt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương trong năm 1975.

Bài học mà Đảng ủy chúng tôi rút ra trong thời kỳ này tại cuộc họp tháng 1 năm 1974 là phải nắm vững tư tưởng cách mạng bạo lực và tư tưởng chiến lược tiến công, tìm hiểu và đánh giá đúng đắn bản chất, âm mưu thủ đoạn của kẻ địch thì mới quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ và khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới thì sự lãnh đạo về mặt chính trị tư tưởng phải được coi trọng đúng với vai trò quyết định của nó.

Nói một cách khác: Khi cách mạng chuyển giai đoạn, tình hình diễn biến phức tạp thì trong khi thực hiện nhiệm vụ, phải nắm vững những vấn đề nguyên tắc “bất biến”, kiên định mục tiêu lý tưởng; phải bình tĩnh sáng suốt xem xét động thái về phía đối phương, phân tích những thủ đoạn mới trên cơ sở hiểu biết về bản chất và âm mưu cơ bản của họ để có đối sách hợp lý đấu tranh giành thắng lợi.

Để làm được việc đó phải tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, củng cố lập trường quan điểm giai cấp; đồng thời kiên quyết đấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực ngại khó khăn gian khổ và mơ hồ ảo tưởng về kẻ thù.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.

    Nổi bật

        Mới nhất

        Kỳ 26: Khai thông đường 220 chiến lược
        • Mặc định