Trận đánh

Kỳ 25: Cuộc chiến sau Hiệp định Paris

• 26/06/2026 11:28

Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, phía Mỹ vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, họ trắng trợn chà đạp lên các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Tiếp tục thực hiện “Học thuyết Ních-xơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Ngay từ khi hiệp định sắp được ký kết, chính quyền Ních-xơn vừa ký kết hiệp định vừa giúp ngụy quyền Sài Gòn tiếp tục chiến tranh. Họ chuyển giao hầu hết vũ khí trang bị của Mỹ cho quân đội ngụy. Mỹ cũng đã cấp tốc chuyển cho chính quyền Thiệu thêm 1 tỉ đô-la vũ khí và trang bị để hiện đại hóa quân đội ngụy Sài Gòn, trong đó có 500 khẩu pháo (có 24 khẩu pháo phòng không 40 ly), 625 máy bay các loại, 400 xe tăng bọc thép và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Quân ngụy Sài Gòn đã bắt thêm 22 vạn lính mới, thu nhặt 12 vạn tàn binh và lính đào ngũ.

Hiệp định Pa-ri có hiệu lực từ 0 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973, nhưng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn tiếp tục sử dụng một lực lượng lớn quân đội lấn chiếm Cửa Việt (Quảng Trị), đánh chiếm một số vùng giải phóng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (Khu 5), đường số 4, Chương Thiện, Núi Dài, Tri Tôn (đồng bằng sông Cửu Long). Chiến sự vẫn chưa chấm dứt, có nơi, có lúc ác liệt hơn trước.

Ở Tây Nguyên, kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của Nguyễn Văn Thiệu – tổng thống ngụy quyền Sài Gòn được quân đoàn 2 ngụy thực hiện ngay trước giờ ngừng bắn có hiệu lực. Mục tiêu tiến công chính là vùng giải phóng Lam Sơn – Trí Đạo – Võ Định – Hà Mon – Đắc Vát (Kon Tum), Đức Cơ, Thanh An, đường 19 tây (Gia Lai).

Trên hướng Sư đoàn 10, ngay từ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, quân ngụy Sài Gòn liên tiếp mở những cuộc hành quân lấn chiếm quy mô cỡ trung đoàn đến sư đoàn thiếu. Được pháo binh và không quân chi viện, chúng tập trung giải tỏa trục đường giao thông số 14 và chiếm một số vị trí có giá trị về quân sự để giành lại thế trận có lợi cho chúng và giảm sức ép của ta đối với thị xã Kon Tum.

Để đập tan âm mưu lấn chiếm của địch, củng cố và giữ vững vùng giải phóng của ta, Bộ tư lệnh sư đoàn chúng tôi chủ trương phải nhanh chóng triển khai lực lượng hình thành thế trận phòng ngự vững chắc ở phía bắc thị xã Kon Tum, trên một vòng cung dài gần 30 km từ điểm cao 751 (Ngọc Quản) qua căn cứ Lam Sơn đến Kon Trang Kla xuống Ngọc Bay và tới điểm cao 674. Chúng tôi sử dụng các trung đoàn bộ binh 28 và 66 cùng hầu hết lực lượng pháo binh của sư đoàn tham gia phòng ngự. Hướng tây đường 14 – hướng phòng ngự chủ yếu do trung đoàn 28 đảm nhiệm; hướng đông đường 14 – hướng phòng ngự quan trọng do trung đoàn 66 phụ trách, chúng tôi sử dụng tiểu đoàn công binh 31 tăng cường cho 2 trung đoàn này để xây dựng công sự, trận địa. Bộ đội ta đã xây dựng nên một hệ thống công trình kiên cố, có thế trận liên hoàn vững chắc. Pháo 85 ly, pháo 105 ly và cả xe tăng đều có hầm che chắn vững chắc. Toàn bộ hoạt động của ta được chuyển xuống lòng đất.

Hiệp định Pa-ri đã có hiệu lực, nhưng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 vẫn chưa được hưởng một ngày hòa bình trọn vẹn, đã cùng các đơn vị bạn bước vào cuộc chiến đấu chống địch lấn chiếm, giữ vững từng tấc đất thiêng liêng mà quân và dân ta đã phải đổ biết bao xương máu mới giành được. Trong cuộc chiến đấu này, chiến sĩ ta không những phải chịu đựng sự tàn phá khốc liệt của bom đạn quân thù mà còn phải chịu đựng cả cái khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu cao nguyên, nhất là trong những tháng cao điểm của mùa mưa. Những trận mưa tầm tã kéo dài gây sụt lở và ngập úng nhiều hầm hào của chiến sĩ ta ở Đắc Rơ Cót, Ngô Trang, bản Con Co...

Chiều ngày 2 tháng 5 năm 1973, tôi về trung đoàn 28 kiểm tra tình hình bộ đội chốt giữ bảo vệ vùng giải phóng. Anh Vũ Đình Thước – trung đoàn trưởng trung đoàn 28 và anh Lê Ngọc Tùng – tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 dẫn tôi xuống trận địa chốt của đại đội 10 tiểu đoàn 3 ở Đắc Rơ Cót, nơi đã nảy sinh những câu ca dao bất hủ của chiến sĩ ta: “Cây quanh mình trụi lá, Đất đã hóa thành vôi” và: “Ngày nắng như đổ lửa, Đêm mưa hầm đầy nước”. Tôi vô cùng xúc động khi nhìn thấy trên một dải đất từ Võ Định, hai bên đường 14 đến Krong, Trung Nghĩa (sát nách thị xã Kon Tum) cờ giải phóng cắm lên những vị trí cao nhất phấp phới tung bay được bộ đội ngày đêm canh giữ bảo vệ. Khi tôi đến điểm chốt của đại đội 10 tiểu đoàn 3, thấy anh em áo quần bê bết bùn đất, tóc trùm tai, sống trong cảnh “cơm nắm ngày hai bữa, hộp nước cũng chia đôi” vậy mà nét mặt ai cũng rất tươi.

Đêm hôm ấy, tôi và anh Vũ Đình Thước nghỉ lại trận địa đại đội 10. Tôi đã đến từng căn hầm thăm hỏi động viên bộ đội và cùng anh em suy nghĩ, trao đổi cách giải quyết những vấn đề bức xúc về tình trạng hầm hào sụt lở. Qua tiếp xúc với những người chiến sĩ ngày đêm đối mặt với kẻ thù và đối mặt với cả thời tiết, khí hậu, hoàn cảnh chiến đấu ở đây tôi càng thấy tiềm năng trí tuệ của quần chúng thật tuyệt vời. Tôi không thể nào quên cái đêm hôm đó được tiếp xúc với những chàng trai – sinh viên – chiến sĩ Trường đại học Mỏ địa chất bổ sung về Sư đoàn 10 đầu năm 1972. Chính các chàng trai sinh viên này đã đề xuất làm hầm chữ A và hào nổi để chống ngập nước và sụt lở. Chính họ nêu ý kiến gợi ý cho chúng tôi đưa súng phòng không vào trong đội hình phòng ngự bắn máy bay địch. Chính các chàng trai ấy đã đề nghị tổ chức những khẩu đội cối 82 ly luồn sâu diệt pháo địch như trước đó chúng tôi thường làm. Và cũng chính những con người đáng yêu ấy đã mạnh dạn nêu ý kiến không thể để cho địch ngang nhiên phá hoại hiệp định, ngang nhiên lấn chiếm vùng giải phóng. Phải kiên quyết trừng trị những hành động ngoan cố của địch, phải đánh thẳng vào nơi xuất phát hành quân của chúng... Đó là những ý kiến hoàn toàn chính xác, thể hiện rất rõ tư tưởng tiến công của Đảng ta được thấm nhuần trong mỗi con người chiến sĩ của sư đoàn.

Qua nghiên cứu tình hình thực tế, Bộ tư lệnh sư đoàn và chỉ huy các trung đoàn lập kế hoạch tác chiến mới: Tăng cường lực lượng cho phía trước, củng cố xây dựng công sự trận địa ở những nơi ngập úng. Tích cực bắn máy bay, kiềm chế pháo binh địch, không cho chúng tự do bắn phá bừa bãi vào vùng do ta kiểm soát. Các trung đoàn 28, 66 sử dụng lực lượng thích hợp đưa vào hoạt động ở phía sau địch, tổ chức từng khẩu đội cối 82 ly, có trinh sát dẫn đường và có bộ binh bảo vệ luồn sâu cơ động tập kích diệt pháo địch.

Thực hiện chủ trương trên, mọi hoạt động của các đơn vị trong sư đoàn sôi nổi hẳn lên. Những trận địa pháo của địch ở Non Nước, ngã ba Trung Tín thường xuyên ăn đòn của các phân đội cối cơ động của các trung đoàn 28, 66. Trên đường 14, từng đoàn xe địch liên tiếp bị các chiến sĩ trung đoàn 95 chặn đánh tiêu diệt. Tính đến cuối năm 1973, cả Tây Nguyên vẫn giữ được vùng giải phóng đã mở ra trong năm 1972.

Tình hình sau 3 tháng ký hiệp định ở Tây Nguyên cho thấy: địch thường tập trung lực lượng lấn chiếm có trọng điểm trên từng hướng. Chúng dùng thủ đoạn “lấn cài xen kẽ, dùi đâm dài ngày” hòng đẩy lực lượng ta ra khỏi các khu vực chốt. Nơi nào bị đánh đau, chúng co lại và tạm thời hòa hoãn tiếp xúc với ta. Ở những nơi lực lượng ta mỏng chúng tập trung quân đánh phá liên tục cố sức lấn chiếm các khu vực do ta kiểm soát.

Cuộc chiến đấu trong hoàn cảnh mới đặt ra cho người lính Sư đoàn 10 chúng tôi phải đánh thắng địch cả về quân sự và chính trị. Một mặt kiên quyết trừng trị những nơi chúng lấn chiếm, mặt khác chúng tôi phối hợp cùng các tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai mở những điểm tiếp xúc giữa ta và địch (lúc đó ta gọi là “nhà hòa hợp”). “Nhà hòa hợp” được trang hoàng đẹp, dán tranh ảnh, văn bản Hiệp định Pa-ri, chính sách 10 điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng... Binh lính địch thường ra xem, có điều kiện để bộ đội ta tuyên truyền chủ trương chính sách của mặt trận, kêu gọi họ không đi lấn chiếm, quay về với gia đình... đồng thời vạch trần những luận điệu vu khống xuyên tạc của những sĩ quan tâm lý chiến dịch làm cho binh lính địch hiểu rõ về cách mạng.

Tại “nhà hòa hợp” ở Chu Đết, Kon Trang Kla, Ngô Trang... trung đoàn 66 và trung đoàn 28 đã tiến hành hàng trăm cuộc gặp gỡ, giải thích cho hàng ngàn lượt binh lính địch nghe về các điều khoản của Hiệp định Pa-ri, về thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống ngoại bang; đồng thời vạch mặt và tố cáo các hành động ngoan cố của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Anh em ta còn nói rõ chính sách 10 điểm của cách mạng đối với binh sĩ, gia đình binh sĩ và nhân viên ngụy quyền, hướng dẫn cho binh sĩ địch đấu tranh với chỉ huy ác ôn ngoan cố, bỏ ngũ về nhà làm ăn, không đi lấn chiếm, chết vô ích. Còn đối với những tên chỉ huy ngoan cố và sĩ quan tâm lý chiến, cán bộ, chiến sĩ ta rất cứng rắn và kiên quyết dùng lý lẽ sắc bén của mình để đập lại những luận điệu xảo trá và những yêu cầu ngang ngược của chúng.

Tại “nhà hòa hợp” ở Kon Trang Kla, trung đoàn 66 tổ chức trao trả cho phía bên kia 32 lính đi lấn chiếm bị thương. Trước những bằng chứng không thể chối cãi, viên tiểu đoàn trưởng phải ký vào biên bản nhận tội vi phạm hiệp định.

Ở khu vực Chu Thoi, địch cho quân lấn chiếm điểm cao 800, tiểu đoàn 394 trung đoàn 95 đã chặn đánh diệt gần hết 2 đại đội của liên đoàn biệt động quân số 21. Anh em kể lại: Qua máy bộ đàm, chỉ huy trưởng liên đoàn biệt động nhận tội vi phạm hiệp định và xin ta cho chúng đến lấy xác đồng bọn. Ta đã nhận lời đề nghị của họ. Các chiến sĩ tiểu đoàn 394 giám sát việc làm của chúng, thấy địch chỉ lấy xác sĩ quan, bỏ lại xác lính, anh em ta lập tức vạch trần thái độ coi rẻ sinh mạng binh lính của những người chỉ huy và buộc họ phải đưa toàn bộ xác những người lính xấu số kia về căn cứ.

Tuy bị thất bại liên tiếp về quân sự, chính trị nhưng ngụy quân Sài Gòn được chủ Mỹ hà hơi tiếp sức vẫn ngoan cố đeo đuổi âm mưu dùng sức mạnh quân sự để lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1973, chính quyền Thiệu mở chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” và kế hoạch “bình định đặc biệt” nhằm ba mục tiêu: nhanh chóng lấn chiếm thu hẹp vùng giải phóng của ta; lấn lại các khu giải phóng lớn ở đồng bằng; đẩy mạnh giành và kìm kẹp nhân dân. Để thực hiện ý đồ trên, địch đã sử dụng 60% số quân chủ lực và toàn bộ lực lượng bảo an dân vệ mở hàng vạn cuộc hành quân lấn chiếm, giải tỏa vùng giải phóng của ta, 40% số chủ lực còn lại càn quét các vùng lõm và hỗ trợ bình định.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.

    Nổi bật

        Mới nhất

        Kỳ 25: Cuộc chiến sau Hiệp định Paris
        • Mặc định