Kỳ 22: Đột phá Căn cứ Ngọc Rinh Rua
Bộ tư lệnh tiền phương cho rằng quân địch đang hoang mang đã phải lui về tuyến phòng ngự cơ bản. Vì vậy không thể bỏ lỡ thời cơ, từ phản công chúng tôi quyết định chuyển sang tiến công để phát huy quyền chủ động trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động và buộc chúng phải bỏ hẳn ý đồ đánh ra vùng ba biên giới. Hướng tiến công lần này chúng tôi chọn là Ngọc Rinh Rua (cao 1.001 m), một điểm cao có vị trí chiến thuật quan trọng trong tuyến phòng ngự của địch. Ngọc Rinh Rua bị mất thì tuyến phòng ngự Plây Cần, Đắc Mót, Đắc Tô sẽ bị uy hiếp, buộc địch phải ra giải tỏa, ta có điều kiện tiêu diệt địch xung quanh Ngọc Rinh Rua. Bộ tư lệnh tiền phương chúng tôi sử dụng trung đoàn 66 tiêu diệt căn cứ Ngọc Rinh Rua.
Đêm ngày 30 tháng 3, tiểu đoàn 7, đại đội đặc công 19 và đại đội DKZ của trung đoàn 66 bí mật gỡ mìn, cắt rào kẽm gai và ém quân quanh căn cứ Ngọc Rinh Rua.
Trung đoàn 28 và trung đoàn 31 cùng lực lượng còn lại của trung đoàn 66 đã chiếm lĩnh xong các vị trí sẵn sàng chặn đánh địch từ Đắc Tô lên, Đắc Mót vào.
Nguyễn Văn Lục – tiểu đoàn trưởng; anh Lê Xuân Thanh – chính trị viên. Tiểu đoàn 3, anh Lê Ngọc Tùng – tiểu đoàn trưởng; anh Nguyễn Tiến Tú – chính trị viên.
Các đơn vị trực thuộc: tiểu đoàn 30, anh Hoàng Sĩ Miêu – tiểu đoàn trưởng, anh Trần Văn Toàn – chính trị viên; tiểu đoàn 32, anh Nguyễn Bá Ngôn – tiểu đoàn trưởng, anh Phạm Hồng Đức – chính trị viên; tiểu đoàn 31 (công binh), anh Nguyễn Văn Du – tiểu đoàn trưởng, anh Bùi Quang Kỳ – chính trị viên; tiểu đoàn 37 (đặc công), anh Đỗ Công Mùi – tiểu đoàn trưởng, anh Nguyễn Thanh Lộc – chính trị viên; tiểu đoàn 26 (thông tin), anh Vũ Quốc Hội – tiểu đoàn trưởng, anh Trần Thanh Mạch – chính trị viên; tiểu đoàn 25 (vận tải), anh Nguyễn Xuân Quý – tiểu đoàn trưởng, anh Vũ Thanh Sơn – chính trị viên; tiểu đoàn 29 (quân y), anh Phạm Hanh – tiểu đoàn trưởng, anh Nguyễn Khoang – chính trị viên; tiểu đoàn 21 (thu dung), anh Nguyễn Văn Hòa – tiểu đoàn trưởng, anh Nguyễn Ngọc Hiến – chính trị viên.
Tôi chủ ý ghi lại tất cả tên những cán bộ Sư đoàn 10 chủ trì từ tiểu đoàn đến sư đoàn có mặt ngay từ buổi đầu thành lập, bởi vì trong số những người này có anh đã nằm lại ở Tây Nguyên, tên còn khắc trong nhà bia tưởng niệm. Có anh đã ngã xuống trên đường truy kích địch trong chiến dịch mùa Xuân năm 1975. Có anh hy sinh ngay từ ngày đầu cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Có người trở thành anh hùng, tướng lĩnh và không ít người đã trở về với cuộc sống đời thường. Nhưng đối với tôi, những gương mặt ấy mãi mãi không thể phai mờ trong ký ức.
Nhiệm vụ của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao cho Sư đoàn 10 là: Xây dựng sư đoàn tinh nhuệ theo phương hướng chính quy, hiện đại, một mặt phụ trách địa bàn, đồng thời sẵn sàng cơ động tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đánh giỏi các hình thức chiến thuật, tiêu diệt chiến đoàn, trung đoàn địch là phổ biến, góp phần tích cực tiêu diệt sư đoàn địch. Đã sử dụng vào đâu là giải quyết được nhiệm vụ chiến dịch ở đó. Đã đánh
bốc cháy. Chiếc thứ hai vừa chạm đất bị đạn súng cối của ta bắn trúng cháy bùng lên.
Trên hướng bắc, đại đội 1 sau khi tiêu diệt được quân địch ngăn chặn đã xông vào bên trong cùng đại đội 2 và đại đội 3 hình thành 4 mũi đánh chiếm sở chỉ huy, khu thông tin và trận địa pháo, chỉ sau ít phút chiến đấu anh em ta hoàn toàn làm chủ trận địa.
Trận tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn bộ, pháo hỗn hợp trên điểm cao giữa ban ngày và ngay trong tầm phi pháo ác liệt của tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) là trận đánh xuất sắc, mở ra một bước phát triển mới cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên có thể đánh thẳng vào khu vực phòng ngự cơ bản của địch.
Trong trận Ngọc Rinh Rua đã xuất hiện một gương chiến đấu mới, đó là Vương Văn Chài – chiến sĩ xung kích số một của đại đội 2 – người đã phá tung cửa mở trước nhất, đánh chiếm lô cốt đầu cầu trước nhất, bắt tù binh trước nhất, bắn rơi máy bay trước nhất, đánh chiếm sở chỉ huy địch trước nhất rất xứng đáng với danh hiệu “Dũng sĩ 5 nhất” mà cả trung đoàn 66 tin yêu trao tặng.
Ngay sau khi nhận được tin ta làm chủ căn cứ Ngọc Rinh Rua, thu 4 khẩu pháo 105 ly với hàng nghìn quả đạn, Bộ tư lệnh tiền phương chúng tôi trao đổi: đây là dịp tốt hiếm có ta dùng pháo địch đánh địch và lệnh cho trung đoàn 40 cử đại đội 8 ngay trong đêm cấp tốc lên Ngọc Rinh Rua lấy pháo địch bắn vào căn cứ địch ở Đắc Tô, đường 18.
Đại đội trưởng đại đội 8 Phạm Ngọc Minh kể lại: Khi anh và các pháo thủ lên kiểm tra trận địa, 4 khẩu pháo 105 ly đang quay nòng về phía hậu cứ của ta, bên cạnh là những đống đạn chất cao. Một khẩu bị xẹp lốp, một khẩu bị vỡ kính ngắm và trong buồng đạn của mỗi khẩu anh em ta còn lôi ra được một khối bộc phá lớn địch chưa kịp giật nụ xòe. Anh em ta nói với nhau: Chính những khẩu pháo này đã gây biết bao tội ác với đồng đội, bắn phá buôn làng, giết hại đồng bào ta, phải quay ngược lại giáng vào đầu chúng.
Sáng ngày 1 tháng 4 năm 1971, khi căn cứ địch ở Đắc Tô và dọc đường 18 hiện rõ trong kính ngắm, những khẩu pháo bắt đầu nhả đạn. Khẩu đội trưởng Đỗ Đức Toàn, pháo thủ số 1 Hà Tiến Chiến cùng đồng đội xả những quả đạn chính xác vào mục tiêu. Một kho hàng trong căn cứ Đắc Tô 2 bốc cháy, một khu nhà lính đổ sập, 2 khẩu địch bị phá hỏng. Cả khu vực Đắc Tô, đường 18 rung chuyển trong tiếng nổ của đạn pháo. Đại đội pháo binh 8 (trung đoàn 40) đã mở đầu phong trào thi đua “đoạt pháo địch diệt địch”.
Mất Ngọc Rinh Rua, địch để mất một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng ngự tây nam Tân Cảnh, uy hiếp trực tiếp trung tâm của tập đoàn cứ điểm Đắc Tô – Tân Cảnh. Trước nguy cơ đó, những người chỉ huy quân đội Mỹ – ngụy ở vùng 2 chiến thuật đã tập trung 20 tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 22, 23 và liên đoàn biệt động quân, lữ đoàn dù 2 lên khu vực Ngọc Rinh Rua để mở những đợt phản kích, giải tỏa.
Khu quyết chiến lần này nằm kề ngay tuyến phòng ngự cơ bản của địch, đồng thời cũng là tuyến xuất phát phản kích nên địch dễ chạy. Nắm được đặc điểm đó, các trung đoàn cơ động của ta đã kết hợp thế trận bố trí sẵn với cơ động cao, giữ bí mật bất ngờ lừa địch từng bước, bằng cách nhường cho chúng vài vị trí có lợi để kéo đánh vào sâu, sau đó dùng lực lượng bố trí sẵn chặn lại tiến công. Bằng cách đánh này, ta đã làm cho lực lượng của quân đoàn 2 ngụy không chịu nổi, bị tiêu hao, tiêu diệt và cuối cùng chúng phải tranh cướp, bắn giết nhau bám càng máy bay trực thăng Mỹ rút chạy.
Trận tiến công tiêu diệt căn cứ Ngọc Rinh Rua là bước phát triển mới trong đánh công sự vững chắc của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 66. Chỉ huy trung đoàn tổ chức bộ đội hành quân chiếm lĩnh ban đêm, đào công sự chữ A sát hàng rào địch, tiến hành mở cửa bằng phương pháp bí mật, liên kết mìn định hướng và bộc phá, thực hành đột phá và đánh chiếm trận địa địch bằng các mũi đột phá. Mũi đột phá trong trận này gồm xung kích kết hợp với hỏa lực bắn thẳng ĐKZ và súng 12,7 ly. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến lần này cũng khác với chiến thuật bao vây đánh lấn trong chiến dịch Bu Prăng và cũng không giống cách đánh bí mật “nở hoa trong lòng địch” trước đó.
Điều quan trọng là qua trận thắng Ngọc Rinh Rua ta đã mở ra triển vọng tiêu diệt những căn cứ công sự vững chắc trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch bằng bộ đội hiệp đồng binh chủng.
Như vậy, do luôn hun đúc trong mình ý chí quyết thắng kẻ thù, cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên trong thực hiện nhiệm vụ trên giao đã không ngừng sáng tạo cách đánh mới để chiến thắng Mỹ – ngụy. Quyết thắng, sáng tạo đã trở thành hai nội dung quan trọng trong truyền thống của các lực lượng vũ trang Tây Nguyên.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.