Kỳ 18: Huyết chiến trên Đỉnh 875
Tôi còn nhớ trước ngày bộ đội hành quân chiếm lĩnh trận địa, Đoàn văn công Tổng cục Chính trị và đội văn nghệ xung kích mặt trận đã chia nhau từng tổ đến tận đơn vị trung đội, đại đội phục vụ, động viên cán bộ chiến sĩ trước khi lên đường ra trận.
Ngày 15 tháng 10 năm 1967, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực tại chỗ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích hai tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc nổ súng đánh địch. Đêm ngày 20 tháng 10, tiểu đoàn 33 ĐKZB bắn vào sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy, sân bay Cù Hanh, sở chỉ huy sư đoàn 4 Mỹ ở La Sơn gây cho chúng thương vong lớn. Trên các đường 14, 19, 21 và khu vực tây Plây Cu, bắc Buôn Ma Thuột diễn ra nhiều trận đánh cả quân Mỹ lẫn quân ngụy của các đơn vị tại chỗ, đã thu hút hai phần ba lực lượng sư đoàn 4 Mỹ mở cuộc hành quân “Mác Ác–tơ” vào vùng tây tỉnh Gia Lai và bắc tỉnh Đắc Lắc, nhưng quân Mỹ đi đến đâu cũng không sao tìm thấy chủ lực của ta.
Ngày 28 tháng 10, trung đoàn 33 chặn đánh quyết liệt tiểu đoàn 1 lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ ở buôn Mê Van. Trung đoàn thiết giáp ngụy đi ứng cứu cho quân Mỹ, bị bộ đội ta chặn đánh diệt một số xe... Trong khi đó, các đơn vị chủ lực của ta bí mật hành quân chiếm lĩnh trận địa theo phương án đã định.
Do đặc điểm địa hình vùng rừng núi bắc Tây Nguyên đồi cao dốc đứng nên ở chiến dịch Đắc Tô bộ đội ta sáng tạo một kiểu hầm trú ẩn mới. Lợi dụng sườn đồi dốc và những bụi lồ ô, bụi le chiến sĩ ta thường đào một hố hình chữ nhật sâu rồi khoét vào theo hình tròn tùy theo địa hình mà phát triển ngách. Nhiều đơn vị anh em lấy lá búng báng đan lại rồi găm vào thành, dùng lô ô làm sạp ngủ và sinh hoạt. Loại hầm này vừa chắc, vừa tiện, lại giữ được bí mật vì không phải chặt gỗ như làm hầm kèo (chữ A).
Ấn tượng khó quên đối với tôi trong chiến dịch Đắc Tô mùa đông năm 1967 là sự nỗ lực phi thường của cán bộ, chiến sĩ ta. Chiến sĩ bộ binh mang vác nặng leo núi đã khó, chiến sĩ pháo binh khiêng vác cồng kềnh càng khó hơn. Đại đội 1 pháo binh phải tháo rời 2 khẩu sơn pháo 75 ly, nhiều bộ phận phải từ 4 đến 6 người mới khiêng nổi. Lúc trèo đèo, khi xuống dốc dưới trời mưa trơn, nhiều chiến sĩ ngã lăn xuống vực, áo quần rách bươm, gai cào, vắt cắn rớm máu. Thử thách và gian nan tưởng chừng sức con người khó có thể vượt qua để đưa hai khối thép lên đỉnh Ngọc Bờ Biêng cao 1.338m. Nhờ sự nỗ lực phi thường đó các chiến sĩ đại đội 1 đã làm cho quân địch bất ngờ đến kinh hoàng.
Sư đoàn 4 Mỹ sau khi mở cuộc hành quân ra vùng Chư Pa, Đức Cơ (tỉnh Gia Lai) và Mê Van (Đắc Lắc) không đạt được mục đích, họ liền chuyển cuộc hành quân “Mác Ác-tơ” ra vùng tây bắc tỉnh Kon Tum.
Ngày 2 tháng 11, sở chỉ huy lữ đoàn 1 Mỹ lên Đắc Tô và thiết lập 2 trận địa khác ở Plây Cần và Đắc Mót. Một tiểu đoàn Mỹ được đổ xuống chiếm điểm cao Ngọc Rinh Rua. Cùng lúc tướng Oét-mo-len ra lệnh đình chỉ cuộc hành quân của lữ đoàn dù 173 Mỹ ở Phú Yên, ném chúng lên Đắc Tô. Hai tiểu đoàn Mỹ thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 và lữ đoàn dù ngụy cũng được điều lên Tây Nguyên làm lực lượng dự bị.
Địch ra quân sớm hơn dự kiến của ta, với ý đồ thực hành ngăn chặn chiến dịch. Tình hình đó thúc đẩy đội hình chiến dịch của ta phải nhanh chóng vào chiếm lĩnh và khẩn trương hoàn tất mọi công việc chuẩn bị.
Ngày 3 tháng 11, hai khẩu sơn pháo 75 ly được lệnh nổ súng vào căn cứ Đắc Tô. Bị đòn bất ngờ nên địch bị thiệt hại rất nặng. 15 giờ 30 phút cùng ngày, lữ đoàn 1 sư đoàn 4 dùng máy bay lên thẳng đổ một tiểu đoàn xuống khu Đồi Tranh phía đông dãy Ngọc Bờ Biêng khoảng 500m và tiến lên trận địa chốt của đại đội 11-tiểu đoàn 6 (Tây Ninh). Các chiến sĩ tiểu đoàn 6 và các chiến sĩ pháo binh tiểu đoàn 31 trung đoàn 40 đã thể hiện tinh thần chiến đấu quả cảm và sức chịu đựng kiên cường. Trong sổ công tác của tôi còn ghi:
– Ngày 4 tháng 11 các chiến sĩ trên chốt Ngọc Bờ Biêng đã anh dũng đánh lui 8 đợt tiến công của 2 đại đội Mỹ.
– Ngày 5 tháng 11, một đại đội Mỹ bất ngờ ập lên trận địa chốt thứ hai của đại đội 11 ở Ngọc Tang. Bộ đội ta dùng lưỡi lê, báng súng, lựu đạn đánh giáp lá cà với quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên.
– Ngày 6 tháng 11, lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ đổ tiếp xuống Ngọc Dơ Lang và điểm cao 882. Trung đoàn 320 chặn đánh quyết liệt làm cho lữ đoàn này thiệt hại nặng.
Bị đòn đau, những người chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn vội vã điều gấp lữ đoàn dù 173 từ Phú Yên lên Đắc Tô tăng sức chiến đấu cho sư đoàn 4 Mỹ; đồng thời họ sử dụng máy bay chiến lược B52 đánh phá ác liệt suốt ngày đêm vào khu vực tây nam Đắc Tô.
Lữ đoàn dù 173, do chuẩn tướng Li-bi-e Uây-tơ làm tư lệnh được máy bay lên thẳng đổ xuống Plây Cần. 13 giờ ngày 6 tháng 11, hai đại đội của tiểu đoàn 1 được trực thăng đổ xuống các điểm cao 823, 845, 882 trên dãy Ngọc Kom Liệt hình thành hai mũi đánh vào sườn sư đoàn 1 của ta. Các chốt chiến thuật của tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 kịp thời nổ súng đánh thiệt hại nặng một đại đội, bắn rơi hai máy bay lên thẳng. Cay cú trước thất bại bất ngờ, chỉ huy lữ đoàn 173 đổ tiếp 2 đại đội của tiểu đoàn 4 xuống chân điểm cao 823. Hai đại đội này lọt đúng vào trận địa chốt, đồng thời là đài quan sát của đại đội trinh sát trung đoàn 66. Các chiến sĩ trinh sát dựa vào công sự và chiến hào đã được chuẩn bị sẵn chặn đánh loại khỏi vòng chiến đấu hơn 60 lính Mỹ.
Như vậy trong ngày 6, cả hai cánh quân của địch đều bị trung đoàn 320 và trung đoàn 66 chặn đánh. Bộ tư lệnh chiến dịch cho rằng mặc dù bị đánh song quân địch vẫn có thể còn tiến sâu hơn, nên lệnh cho trung đoàn 174 hành quân gấp ra tây nam Làng Lô Kram chuẩn bị chặn đánh quân địch.
Tối ngày 8 tháng 11, Sư đoàn 1 dùng tiểu đoàn 4, đại đội 10 (tiểu đoàn 6 trung đoàn 320) tập kích quân địch ở điểm cao 724. Đang trên đường tiếp cận, bộ đội ta phát hiện quân Mỹ ở điểm cao 724 cũng hành quân thay đổi nơi trú quân để phòng ta tập kích. Tiểu đoàn 4 và đại đội 10 nhanh chóng chuyển sang đánh vận động, diệt gần 100 tên, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 sư đoàn 4. Cùng vào thời gian trên tại Ngọc Kom Liệt, do bị ta tiến công dồn dập, nên tiểu đoàn 4 lữ đoàn 173 từ điểm cao 823 mở cuộc hành quân giải tỏa về phía tây. Tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 được điểm chốt đại đội trinh sát yểm hộ kịp thời vận động tiến công mũi quân này của địch. Trận đánh diễn ra quyết liệt từ 6 giờ sáng đến 4 giờ chiều, tiểu đoàn 7 đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn 4 Mỹ, một số tên sống sót cụm lại, bị tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 tiêu diệt. Trận tiêu diệt tiểu đoàn 4 lữ đoàn dù 173 là đòn nặng làm cho địch choáng váng.
Trong lúc chiến sự diễn ra quyết liệt ở Ngọc Kom Liệt, tại Ngọc Dơ Lang, vào lúc 14 giờ ngày 11 tháng 11 tiểu đoàn 3 lữ đoàn dù 173 cho 2 đại đội đánh ra phía tây. Để giữ vững quyền chủ động tiến công, tiểu đoàn 5 trung đoàn 320 đã vận động tiến công diệt gọn 1 đại đội, tiêu hao nặng 1 đại đội của tiểu đoàn 3, loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên. Như vậy, việc ta sử dụng trung đoàn 66 và trung đoàn 320 chặn đánh địch ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt kéo hút lữ đoàn dù 173 và sư đoàn 4 Mỹ vào bẫy “Đắc Tô” là chính xác. Trong hai ngày 17 và 18 tháng 11, đại đội 1 tiểu đoàn 31 trung đoàn 40 tiếp tục bắn phá mãnh liệt vào căn cứ Đắc Tô và sở chỉ huy tiền phương sư đoàn 4. Kho đạn 1.100 tấn của địch trúng đạn nổ dữ dội, làm cho các kho dự trữ hậu cần của cuộc hành quân bị thiệt hại nặng nề. Ba chiếc máy bay C130 chở quân vừa hạ xuống đường băng cũng bị trúng đạn bốc cháy.
Trên hướng đường 18 và đông bắc Đắc Tô, trung đoàn 24 chủ lực tại chỗ cùng với lực lượng công binh và bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum tiến công vào quận lỵ Đắc Tô, thị trấn Tân Cảnh, chặn đánh các đoàn xe vận tải chở quân ứng cứu của địch buộc chúng phải phân tán đối phó.
Sau những cố gắng tiến công chia cắt đội hình chiến dịch của ta ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt không thành công, bộ chỉ huy quân đội Mỹ cho rằng nếu không chiếm được điểm cao 875 làm bàn đạp khống chế ta, thực hiện đòn đánh vu hồi vào lưng đội hình chiến dịch của ta thì không thực hiện được chia cắt chiến dịch, không thay đổi được thế trận. Vì vậy mặc dù xa các căn cứ pháo binh cố định yểm trợ, quân Mỹ vẫn tập trung lực lượng đánh lên điểm cao 875.
Ngày 17 tháng 11, hai tiểu đoàn 1 và 2 thuộc lữ đoàn dù 173 bắt đầu tiến công chiếm điểm cao 875. Cánh quân của tiểu đoàn 1 lữ đoàn dù 173 chưa đến điểm cao 875 đã bị các chiến sĩ trung đoàn 66 chặn đánh, kìm chúng tại chỗ, diệt từng bộ phận. Tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù 173 tiếp tục tiến lên điểm cao 875. Thế là chúng đã bị quân ta nhử sâu vào cái bẫy đã giăng sẵn tại điểm cao 875. Khi tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù 173 tiến lên, đại đội 7 trung đoàn 174 nổ súng chặn đứng đội hình của chúng trước chiến hào và tổ chức một bộ phận xuất kích đánh tạt sườn, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ. Không chiếm được điểm cao 875, ngày 18 tháng 11 địch cho từng tốp máy bay B52 liên tiếp dội bom gần như san phẳng ngọn đồi rồi thúc nhau xông lên. Nhưng từ trong mảnh đất bị bom đạn Mỹ cày xới, các chiến sĩ đại đội 7 bật dậy nã đạn chính xác vào quân địch. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Xảo đứng trên chiến hào dùng AK diệt từng tốp lính Mỹ và chỉ huy anh em chiến đấu. Chiến sĩ Bùi Đình Ước lần đầu ra trận chiến đấu kiên cường, dùng AK, lựu đạn diệt 22 lính Mỹ, đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” cấp ưu tú. Cuộc chiến đấu giành giật quyết liệt của tổ ba người Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc, Đỗ Văn Chuyên đánh lui nhiều đợt tiến công của quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 102 tên Mỹ, nêu kỷ lục xuất sắc về thành tích diệt địch của một tổ ba người trong một đợt chiến đấu.
Ngày 19 tháng 11, trong lúc địch đang bị kìm chặt ở khu vực 875, từ các hướng trung đoàn 174 vận động tới liên tiếp tấn công vào các cụm quân Mỹ tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù 173 của Mỹ. Đây là trận quân Mỹ phải bỏ xác lại trận địa nhiều nhất. Ngay buổi sáng ngày 20 tháng 11, những người chỉ huy quân đội Mỹ đã ra lệnh cho không quân dùng bom phá, bom na-pan hủy xác binh lính của họ. Thế mà trong hồi ký của mình, ông Giôn-xơn có đoạn viết: “Đưa ra chiến trận những tinh hoa của tuổi thanh niên nước ta, những chàng thanh niên ưu tú nhất của chúng ta, đối với tôi không phải là một việc dễ dàng... Tôi cho rằng tôi cũng biết cả những người mẹ của họ sẽ khóc lóc như thế nào, những gia đình họ sẽ đau buồn như thế nào. Đây là nhiệm vụ day dứt nhất và đau đớn nhất của vị tổng thống của các bạn”.
Thử hỏi rằng, ông Giôn-xơn có dám nói thật cho gia đình những người lính Mỹ xấu số kia biết rằng buổi sáng ngày 20 tháng 11 năm 1967, ông ta đã ra lệnh hủy xác con em họ dưới chân ngọn đồi 875 ở một nơi xa xăm đối với nước Mỹ chăng?
Chiến dịch Đắc Tô I là chiến dịch đánh quân Mỹ có hiệu suất cao nhất từ trước đến thời điểm đó. Trong chiến dịch này bộ đội Tây Nguyên đã có những nét phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch: lần đầu tiên ta đánh sát tuyến phòng thủ cơ bản của địch, ở đó địch đã sẵn có các căn cứ hỏa lực và những bàn đạp phản kích. Địch đã ra quân trước và thực hành ngăn chặn chiến dịch trên một số địa đoạn, lực lượng dự bị chiến dịch của địch đã sẵn sàng. Thế đội 1 chiến dịch của ta và của địch cùng triển khai và tranh chấp tuyến 1. Tình huống chiến dịch diễn ra rất phức tạp và khẩn trương.
Nét nổi bật của ta trong chiến dịch này là đã biết phát huy sức mạnh tổng hợp toàn chiến trường để tiến công địch. Trên hướng chủ yếu của chiến dịch ta đã tạo được thế tiến công cả trước mặt lẫn sau lưng địch. Ta đã xác định khu quyết chiến chiến dịch đúng và đã biết tập trung lực lượng đánh trận then chốt và đạt hiệu suất cao, tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn Mỹ. Đánh giá đúng tính hung hăng “tìm diệt” của quân Mỹ, ta đã tổ chức thế trận chiến dịch có chiều sâu, đặt bẫy khu chiến đã chuẩn bị nên tất cả các đơn vị địch lần này đều bị đánh thiệt hại nặng nề, ngay cả lữ đoàn kỵ binh không vận đến “chữa cháy” cũng bị đánh đau. Về chiến thuật: Sự phát triển mới về chiến thuật trong chiến dịch là đã hoàn thiện và khẳng định chiến thuật “chốt kết hợp vận động”. Chiến thuật này phù hợp với điều kiện địa hình rừng núi. Nó đã mở ra phương hướng tiêu diệt từng tiểu đoàn quân địch trong tác chiến vận động, hạn chế những yếu tố ngẫu nhiên trong vận động tiến công bằng tính chủ định cao. Với điểm chốt tổ chức có kế hoạch ta có thể thu hút quân địch, kéo chúng vào trận địa đã chuẩn bị sẵn để rồi vận động tiến công tiêu diệt chúng ở địa hình và thời điểm có lợi nhất.
Với chiến thuật này tiểu đoàn 6 (Tây Ninh) đã đánh đi đánh lại loại khỏi vòng chiến đấu 600 lính Mỹ trên sườn ngọn núi Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Yang trong hơn 20 ngày. Và cũng với chiến thuật này tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 trung đoàn 174 trong một trận đã diệt gọn 1 tiểu đoàn Mỹ ở khu vực điểm cao 875.
Tôi còn nhớ sau chiến dịch Đắc Tô, cơ quan tham mưu Mặt trận Tây Nguyên đã tổng kết rút kinh nghiệm gửi lên Bộ với tên là chiến thuật “chốt kết hợp vận động”. Bộ đánh giá cao hình thức chiến thuật này đồng thời bổ sung và đặt lại là “chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt”.
Chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt mầm mống đầu tiên là trận đánh ở “Rừng im lặng” đến chiến dịch Đắc Tô được phát triển có kế hoạch có sự chuẩn bị sẵn ở những địa hình có lợi cho ta.
Trong chiến thuật này không chỉ có yếu tố bí mật bất ngờ, đánh nhanh giải quyết nhanh mà còn thể hiện tính kiên quyết và tư tưởng đánh tiêu diệt triệt để quân địch. Ngoài những yêu cầu như các chiến thuật khác, chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt còn đòi hỏi tinh thần chiến đấu kiên cường và khả năng trụ bám vững chắc trận địa của người chiến sĩ. Chiến thuật là lĩnh vực mang tính chất quần chúng rộng rãi nhất. Bởi vì, các chiến thuật của quân đội ta thường bắt nguồn từ hành động chiến đấu của người chiến sĩ trên chiến trường. Quá trình hình thành một chiến thuật bao giờ cũng đi từ đơn giản đến hoàn chỉnh, và buổi ban đầu nó thường xuất hiện như một hiện tượng ngẫu nhiên, một mầm mống và sau đó mới trở thành một hình thái có ý thức, có tổ chức và có nguyên tắc. Sự nhạy bén của người chỉ huy là phải nhanh chóng phát hiện những mầm mống ấy và có ý thức phát triển lên một trình độ cao hơn thì mới biến thành một chiến thuật có giá trị.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.