Kỳ 15: Rừng im lặng
Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra ở chiến trường Tây Nguyên rất quyết liệt, liên tục và toàn diện. Trên địa bàn chiến lược hệ trọng này, Mỹ – ngụy đã tập trung mọi cố gắng quyết giành ưu thế. Chúng đã sử dụng nhiều loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại với khối lượng tập trung lớn, từ máy bay chiến lược B52 được sử dụng sớm từ chiến dịch Plây Me (1965), bom 7 tấn, bom điều khiển bằng tia la-de đến các loại pháo và xe tăng hạng nặng. Chúng cũng điều lên Tây Nguyên nhiều đơn vị sừng sỏ bậc nhất của quân đội Mỹ cùng nhiều đơn vị thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân ngụy. Tây Nguyên cũng là chiến trường được những người chỉ huy quân đội Mỹ chọn làm nơi thí điểm nhiều âm mưu chiến lược và thủ đoạn chiến thuật mới. Việc đánh bại quân địch ở Tây Nguyên là một sứ mệnh lịch sử đặt ra cho các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên. Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị to lớn đó đòi hỏi bộ đội ta không những có quyết tâm cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường mà còn phải có trình độ tác chiến và nghệ thuật đánh địch giỏi.
Trong cuộc chiến đấu giáp mặt với quân thù trên chiến trường, hơn ai hết, các chiến sĩ là người đầu tiên đón nhận và có phản ứng nhạy cảm trước mọi thủ đoạn mới của địch. Trong những trận đánh đó đã xuất hiện mầm mống đầu tiên để sau này được đúc kết và bổ sung qua thực tiễn trở thành các chiến thuật hoàn chỉnh. Vượt khó nên khôn, qua thực tiễn chiến đấu mà trưởng thành, bộ đội ta đã vận dụng linh hoạt tìm ra cách đánh phong phú, sáng tạo, bẻ gãy các thủ đoạn của địch để giành thắng lợi.
Ấn tượng sâu sắc đối với tôi là trận đánh của tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 Sư đoàn 1 vào ngày 3 tháng 7 năm 1966 tại khu “Rừng im lặng”¹. Trưa hôm đó, tổ trinh sát tiểu đoàn trên đường đi bám địch, phát hiện một đại đội Mỹ đang dừng ăn trưa. Anh em để lại hai người tiếp tục bám, còn một người chạy về báo cho chỉ huy tiểu đoàn. Ban chỉ huy tiểu đoàn 7 lúc đó gồm có các anh Lê Văn Tam, tiểu đoàn trưởng; anh Võ Hùng Cường, chính trị viên; anh Võ Quang Tịnh, tiểu đoàn phó; anh Tạ Ngọc Sinh, chính trị viên phó. Ban chỉ huy tiểu đoàn hội ý gấp và quyết định sử dụng đại đội 2 (đơn vị chủ công) được tăng cường 1 khẩu cối 82 ly với 30 quả đạn, do anh Võ Quang Tịnh trực tiếp chỉ huy. Nhận được lệnh, đại đội trưởng Hứa Văn Kính và chính trị viên Hoàng Thanh Bình cho bộ đội làm công tác chuẩn bị ngắn. Được trinh sát dẫn đường, cán bộ, chiến sĩ đại đội 2 nhanh chóng tiếp cận quân Mỹ. Khi quan sát, thấy toàn bộ đội hình quân Mỹ nằm trong tầm bắn có hiệu quả, Võ Quang Tịnh chỉ thị cho đại đội 2 nổ súng. Ngay từ những loạt đạn đầu của cối 82 ly, cối 60 ly, chỉ huy và toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc của địch đã bị tiêu diệt. Quân Mỹ như rắn mất đầu lại không được hỏa lực phi pháo chi viện, chúng chống cự lúng túng trước lối đánh gần, áp sát của chiến sĩ ta. Khẩu cối 82 ly do trung đội trưởng Trương Quang Tú, quê An Thạch, Phổ An, Đức Phổ, Quảng Ngãi đánh rất giỏi chi viện đắc lực cho bộ binh. Đại đội trưởng Hứa Văn Kính xông xáo chỉ thị mục tiêu cho chiến sĩ B40 Phạm Đình Tá, quê Vĩnh Trụ, An Nông, Triệu Sơn, Thanh Hóa diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Sinh, quê xóm 2, Hà Ninh, Hà Trung, Thanh Hóa; Nguyễn Văn Thỏa, chiến sĩ, quê Trại Xá, Vân Côn, Hoài Đức, Hà Tây; Hoàng Minh Khôi, quê xóm 6, Quang Thiện, Kim Sơn, Ninh Bình dùng lựu đạn và súng AK diệt 8 tên Mỹ. Trung đội trưởng Phạm Công Vụ, quê Quỳnh Thượng, Thượng Văn, Nông Cống, Thanh Hóa dùng súng AK diệt 3 tên, dùng lưỡi lê đâm chết 2 tên Mỹ khác. Đại đội 2 ở thế áp đảo, chưa đầy 20 phút đã diệt hoàn toàn 1 đại đội Mỹ, nêu kỷ lục lần đầu tiên 1 đại đội ta diệt 1 đại đội Mỹ trên chiến trường.
Cán bộ, chiến sĩ đại đội 2 kiểm tra trận địa đếm được hơn 100 xác lính Mỹ. Tiểu đoàn phó Võ Quang Tịnh trao đổi với đại đội trưởng Hứa Văn Kính: Nhất định quân Mỹ phải dùng lực lượng hành quân giải tỏa để lấy xác đồng bọn. Nói rồi anh cho đại đội 2 tổ chức trận địa phục kích và điện xin tiểu đoàn tăng cường lực lượng sẵn sàng chặn đánh quân Mỹ. Đúng như dự đoán, ngay chiều hôm đó quân Mỹ từ đồn Đức Vinh có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ mở cuộc phản kích vào trận địa đại đội 2. Các chiến sĩ ta đã biến trận địa phục kích thành trận địa chốt thu hút, giam chân quân địch. Chỉ huy tiểu đoàn 7 ra lệnh cho đại đội 1 và đại đội 3 xuất kích. Đại đội 1 do đại đội trưởng Trần Đình Bốn, đại đội 3 do đại đội trưởng Bùi Trung Du chỉ huy nhanh chóng cho bộ đội vận động tới bao vây đánh vào hai bên sườn quân địch. Do kết hợp chặt chẽ giữa chốt giữ trận địa của đại đội 2 và tiến công vào sườn, phía sau quân địch của đại đội 1 và đại đội 3, tiểu đoàn 7 đã diệt thêm 1 đại đội Mỹ, bắn cháy 3 xe bọc thép M113, buộc quân địch phải tháo chạy và dùng máy bay oanh tạc vào trận địa hủy xác đồng bọn, xóa dấu vết thất bại.
Như vậy, trận đánh của tiểu đoàn 7 đã bước đầu hình thành chiến thuật “chốt kết hợp vận động”.
Thực tiễn một số trận chiến đấu 6 tháng đầu năm 1966 đã giúp cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đánh giá chính xác hơn so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, đồng thời phát hiện quy luật hoạt động của quân Mỹ. Tuy bị thất bại liên tiếp và nặng nề, nhưng thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ vẫn chưa thay đổi. Ỷ vào sức cơ động nhanh, hỏa lực mạnh của không quân và pháo binh nên lính Mỹ rất chủ quan và dễ bị mắc lừa. Khi phát hiện được lực lượng của ta, quân Mỹ thường “nhảy cóc” sâu vào phía sau lưng, thực hiện bao vây, chia cắt chặn đường tiếp tế, hòng đánh bật ta ra khỏi khu chiến. Về phía ta, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương qua chiến đấu, có sức cơ động tương đối tốt và vận dụng cách đánh thông minh, sáng tạo, bảo đảm giành thắng lợi. Cuối tháng 8 năm 1966 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Sa Thầy.
Sông Sa Thầy chảy từ bắc Kon Tum gặp sông Pô Cô ở nam tỉnh Gia Lai. Cả hai con sông này đều bờ cao, vách đứng, lòng sâu, nhiều thác ghềnh. Khu vực này còn có nhiều suối, khe chằng chịt tạo nên những chướng ngại thiên nhiên rất hiểm trở. Đây là khu vực rừng già, rừng non, nương rẫy xen kẽ kín đáo, có những bãi cỏ tranh bằng phẳng và những ngọn núi nhô lên như những chiếc bát úp. Trên bờ đông sông Pô Cô địch xây dựng đồn biên phòng Plây Gi-răng cách biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia khoảng 20 km. Chọn khu vực này mở chiến dịch ta có ý định: tiêu diệt, tiêu hao một số bộ phận sinh lực quân Mỹ, thu hút lực lượng Mỹ lên Tây Nguyên, kìm và giữ chúng ở vùng rừng núi, tạo điều kiện cho chiến trường đồng bằng Khu 5 tiến công, góp phần cùng toàn miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch. Mặt khác, chọn nơi đây mở chiến dịch trong mùa khô thứ hai, ta sẽ hạn chế được sức cơ động bằng cơ giới và tác dụng binh khí kỹ thuật của quân Mỹ. Với địa hình xa lạ, lại bị rừng núi và sông suối bao bọc, quân Mỹ dễ rơi vào thế bị chia cắt, cô lập, đội hình chiến dịch của chúng sẽ không giữ được bài bản như lúc ra quân. Đối với ta, đây là vùng căn cứ, bộ đội quen thuộc địa hình, thuận lợi cho tiếp tế, vận chuyển, cơ động và tập kết giấu quân, triển khai tác chiến. Ta có điều kiện nhử địch vào khu quyết chiến đã chọn sẵn, buộc quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta trên địa hình do ta lựa chọn.
Trên hướng chủ yếu, Bộ tư lệnh Mặt trận sử dụng Sư đoàn 1 (gồm các trung đoàn 66, 88, 320) và tăng cường trung đoàn 95 (thiếu), 1 tiểu đoàn súng cối 120 ly và tiểu đoàn súng máy 12,7 ly. Phương thức tiến hành chiến dịch là “vây điểm diệt viện”. Dùng một lực lượng bao vây uy hiếp đồn Plây Gi-răng, buộc địch phản kích, ta sẽ tổ chức liên tiếp tiến công tạo nên phản ứng dây chuyền, điều khiển địch từng bước kéo chúng sa vào khu vực quyết chiến, đánh trận then chốt tiêu diệt địch.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.