Trận đánh

Kỳ 13: Cuộc tập kết lần thứ hai

• 26/06/2026 11:04

Dường như suốt những năm 1968 đến 1972, ở tất cả các cuộc giao ban tuần, giao ban tháng, hội ý… của mọi cấp từ phân đội đến Bộ tư lệnh vấn đề chống đói, vấn đề tăng gia sản xuất đều được đưa vào chương trình nghị sự. Tăng gia sản xuất nhiều lúc được đặt ngang, thậm chí đặt trên công tác tác chiến bởi như các cụ ta thường nói “thực túc binh cường” – có lương thực đủ mới có thể xây dựng được những đơn vị mạnh.

Để cụ thể hoá công tác tham gia sản xuất chống đói, trước hết, cũng như đánh giặc phải bố trí, sắp xếp lại lực lượng trên toàn chiến trường theo hướng tinh gọn, dành ưu tiên cho lực lượng làm kinh tế, trực tiếp sản xuất.

Năm 1968, ở Tây Nguyên có Sư đoàn 1 (nông trường 1) và một số đơn vị độc lập. Trước tình hình gay gắt về lương thực, thực phẩm, trang bị, tinh gọn, chủ lực Tây Nguyên còn bốn trung đoàn (95, 66, 24A, 28) và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật. Đồng thời với việc rút lại các đơn vị chủ lực, ta buộc phải tiến hành đưa một lực lượng không nhỏ ra hậu phương lớn. Tháng 5 năm 1969 rút toàn bộ trường quân chính, trường quân y ra Bắc. Rồi rà soát lại toàn bộ lực lượng như văn công, thương bệnh binh, người mất sức, phụ nữ, trẻ em… và tất cả những lực lượng phục vụ khác. Ai là người “không cần lắm” cho chiến đấu, sản xuất đều xếp vào diện cho ra A. Lực lượng này không nhỏ, cuộc chuyển quân này không đơn giản… Sau này có người ví cuộc “chuyển quân” này như là một cuộc “tập kết lần thứ hai” (trước đó, năm 1954 sau Hiệp định Giơ-ne-vơ cuộc tập kết ra Bắc của các lực lượng kháng chiến là cuộc tập kết thứ nhất).

Cho đến hôm nay, dường như chưa có tài liệu sách vở nào viết một cách thật đầy đủ về những cuộc chuyển quân này, nhưng chỉ đọc một số bài báo, một số đoạn hồi ký của các nhà văn có dịp qua chiến trường Tây Nguyên những năm sáu chín, bảy mươi chúng ta cũng có thể hình dung được về cuộc “tập kết lần thứ hai” ấy. Anh Bảo Định Giang – một cán bộ cao cấp của Ban Tuyên huấn Trung ương, từ Nam Bộ ra Bắc, qua Tây Nguyên ghi trong nhật ký: “Ở trạm 73 anh em săn được nai. Tám giờ rưỡi tối đem về. Mười giờ trạm luộc cho một đĩa. Hơn hai tháng rưỡi nay mới được ăn thịt. Chỉ ăn thịt luộc chấm muối thôi, không có rau. Sau năm giờ đi đường bằng, không trèo dốc như các trạm trước đã tới trạm 71… Trên đường đi gặp toàn thương binh hỏng chân không đi được. Anh em nằm trên cáng chuyển hết trạm này đến trạm khác đến miền Bắc mới thôi. Mỗi lần cáng một thương binh mất bốn giao liên. Dốc núi nhiều chặng rất cao, làm người cáng rất mệt sức. Đó là chưa kể, những trường hợp ốm đau bất thường của cán bộ quân đội qua đường bị sốt nặng cũng phải cáng. Mỗi trạm có từ 18 đến 20 đồng chí kể cả ban phụ trách, phải thường xuyên làm các nhiệm vụ sau đây: đưa rước cán bộ ra, nấu ăn tiếp tế, sản xuất một năm 3 tháng tự túc, chữa bệnh thông thường cho những người đau ốm nhẹ. Năm nay, lại phải chuyển mấy nghìn thương binh từ Tây Nguyên, Nam Bộ ra Bắc, phải lo nhà cửa cho anh em đến ở, tổ chức ăn uống, cáng những đồng chí đau ốm nặng và cụt chân. Nói chung anh em rất có kỷ luật tôn trọng tổ chức. Chỉ có quân đội mới tổ chức được tốt như thế” (Bảo Định Giang trong cuốn Về Nam, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 131, 132).

Cuộc giản chính, giảm quân năm 1969 ở Tây Nguyên là một “giải pháp tình thế”, chúng ta buộc phải làm như vậy vì lý do cốt yếu là vấn đề lương thực.

Song song với việc chuyển bớt lực lượng ra Bắc, Bộ tư lệnh Tây Nguyên quyết định đưa 10% quân số còn lại chuyển qua sản xuất lương thực “chuyên nghiệp”. Thế là những “người nông dân mặc áo lính” lại trở về với công việc nhà nông quen thuộc của mình, chỉ khác một chút là họ không cày sâu cuốc bẫm trên đồng đất quê hương mình mà làm nương, phát rẫy, trỉa lúa, trồng ngô ngay trên mảnh đất của chiến trường Tây Nguyên.

Việc sản xuất, nói thì đơn giản nhưng vấn đề sản xuất ở chiến trường Tây Nguyên thật không đơn giản chút nào. Muốn sản xuất, trước hết phải có đất để mà sản xuất, vì vậy phương châm của cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên lúc ấy là lấn đất, ép địch, giành dân tạo thế chiến trường. Công cuộc giành dân, ép địch lấy đất sản xuất thật vô cùng gian nan, đôi khi để có được đất đai canh tác, bộ đội ta phải đánh đổi bằng cả máu của mình.

Có đất là có ăn – bộ đội Tây Nguyên vẫn thường nhắc nhau như vậy. Và khi đã có đất, những chỉ tiêu, những kế hoạch được đặt ra thật rõ ràng. Kế hoạch, chỉ tiêu sản xuất của Mặt trận Tây Nguyên lúc bấy giờ được xem như “quân lệnh”, đơn vị nào, cán bộ chiến sĩ nào cũng phải bắt buộc thực hiện. Cụ thể:

Kế hoạch sản xuất vụ mùa 1969–1970:

– Loại 1 (bao gồm cán bộ chiến sĩ trong các đơn vị chiến đấu) phải trực tiếp lao động từ 20–23 ngày công trong năm, quân bình 5,2 người làm 1 héc-ta.

– Loại 2, 3, 4 (bao gồm cán bộ chiến sĩ cơ quan, cán bộ chiến sĩ hậu cần, phục vụ, cán bộ chiến sĩ làm chuyên môn nghiệp vụ…) phải trực tiếp tham gia sản xuất mỗi năm 40–60 ngày công, quân bình từ 2,1 đến 3,4 người làm 1 héc-ta.

– Loại 5 (bao gồm 10–15% quân số trực tiếp sản xuất) phải làm 100–200 ngày công một năm, trung bình 1 người làm 1 héc-ta.

Cách canh tác lúa ở miền cao nguyên rất khác với đồng bằng, với những chiến sĩ quê ở đồng bằng Bắc Bộ thì cái khác ở đây ở mức “một trời, một vực”. Ở ngoài Bắc người nông dân làm lúa nước theo chu trình cày, bừa, cấy, gặt, còn ở Tây Nguyên, từ bao đời nay dân làm rẫy, canh tác theo chu trình phát, cốt, đốt, trỉa và tuốt.

Phát là phát rẫy, phát hoang. Người làm rẫy dùng dao quắm phát những cây nhỏ, rồi đốt. Cốt là chặt những cây lớn, những thân gỗ chưa cháy hết trong lúc đốt rồi gom lại tạo ra một mặt bằng. Sau đó là trỉa. Trỉa tức là lấy gậy nhọn chọc lỗ bỏ hạt… Công đoạn sau cùng là tuốt lúa, thu hoạch. Người Thượng tuốt lúa bằng tay, bộ đội ta cũng vậy. Sau này chỉ có một số ít đơn vị sản xuất có tính chuyên nghiệp dùng liềm, hái, còn đại bộ phận vẫn tuốt lúa bằng tay.

Việc canh tác lúa ở Tây Nguyên phụ thuộc ít nhiều vào các yếu tố đất đai, thời vụ, thời tiết và sự phá hoại của chim rừng, thú rừng. Thông thường từ tháng ba, tháng tư khi mùa mưa bắt đầu là mùa làm rẫy. Bộ đội Tây Nguyên ai cũng thuộc câu hát: “Tháng ba mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông lấy nước, mùa em đi phát rẫy làm nương…”. Qua tháng 5, tháng 6, 7, 8 đến tháng 9, 10 mới là mùa thu hoạch. Như vậy là ở Tây Nguyên không phải là “ba tháng trồng cây” mà phải chín tháng trồng cây mới có “ngày hái quả”. Có được hạt gạo ở đất này thật vô cùng khó khăn, gian khổ. Để có bát cơm, cán bộ chiến sĩ và đồng bào Tây Nguyên càng thấm thía câu ca cũ: “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Để có hạt cơm người chiến sĩ không những phải đổ mồ hôi mà như trên đã nói còn phải đổ máu nữa. Máu đổ do bom đạn địch, máu còn đổ vì “rắn cắn, nước trôi, cây đổ, hố vỡ”… Không ở đâu, cái chết lại rình rập con người thường xuyên như ở Tây Nguyên. Có những cái chết đến thật bất ngờ. Bom B52 rải thảm, pháo bầy, đạn biệt kích thám báo, dĩ nhiên rồi, nhưng còn có những cái chết tức tưởi vì hố xé, voi giày, vì cả những con vật bé tí như con mò, con ve.

Con ve màu nâu, nhỏ chỉ bằng hạt tấm. Khi đốt vòi nó cắm sâu vào da thịt con người, đít chổng lên như con muỗi lúc hút máu. Người khi bị ve đốt chỉ nhói nhói đau, nhưng sau đó chỗ bị đốt mẩn ngứa, gãi mấy cũng không hết, rồi cương cứng lên, rồi lở loét, nhiễm trùng. Cũng bé như con ve, con mò thường sống trong các bụi cây. Bị mò đốt, người tự dưng sốt cao, nổi hạch, đau cơ, lở loét và chết…

Nhưng nguy hiểm nhất vẫn là muỗi. Muỗi gây bệnh sốt rét cho bất kỳ ai. Nói đến sốt rét rừng Tây Nguyên không ai tránh khỏi rùng mình. Chính bệnh sốt rét đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn con người, hàng trăm cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên trong những năm chưa xa đó.

Một nắng hai sương mới có được hạt lúa, hạt gạo vì thế, với Tây Nguyên những năm sáu chín bảy mươi gạo được coi như một thứ vàng. Gạo, gạo. Ở đâu cũng thấy vang lên những tiếng đó. Là thế cho nên bộ đội Tây Nguyên suy tôn gạo là vị tư lệnh cao nhất của chiến trường, tư lệnh gạo có quyền tối thượng, có sức mạnh lớn nhất ở đây. Mọi chủ trương, mọi kế hoạch, mọi hoạt động nhất nhất đều do “tư lệnh gạo” quyết định.

Để có gạo, bộ đội cùng đồng bào Tây Nguyên đã tìm mọi chỗ, mọi nơi để trồng trỉa lúa. Ăn sắn, ăn rau cũng làm nương, bụng đói mềm vẫn đi phát rẫy. Chưa hết, còn đánh địch, đuổi thú dữ để giành lấy đất làm nương…

Năm tháng đã đi qua, nhưng với nhân dân hai bên bờ sông Sa Thầy, Pô Cô, vùng ba biên giới Pa Kha, Tà Xẻng, Đắc Son… những cái tên “bộ đội nông trường 1”, “nương nông trường 1”… đã thành những cái tên thân yêu, mãi mãi chẳng phai mờ.

Rẫy “nông trường 1” (Sư đoàn 1) nằm sát ngay tuyến phòng thủ cơ bản của địch, rẫy tiểu đoàn 6 độc lập cách sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy chưa đầy 10 km. Nương rẫy của bộ đội cũng “lấn đất, ép địch, giành dân, tạo thế chiến trường”.

Song song với việc tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật phổ biến kinh nghiệm trồng trỉa lúa, làm nương, làm rẫy thường xuyên trên báo Quân giải phóng Tây Nguyên, Mặt trận còn cử những đoàn cán bộ kỹ thuật tới tận các đơn vị, các làng bản heo lánh để trực tiếp hướng dẫn bộ đội và nhân dân tăng gia sản xuất. Qua vụ mùa 1969–1970, về cơ bản, bộ đội Tây Nguyên đã có gạo. Theo số liệu thống kê lúc ấy thì trong năm 1970 toàn chiến trường đã thu hoạch được 535 tấn thóc, một số đơn vị như các trung đoàn 66, 95, 28, 40 đã có gạo dự trữ phục vụ chiến đấu. Tuy nhiên, gạo vẫn là câu chuyện thời sự, vẫn là vấn đề sống còn của chiến trường này, vì thế chủ trương đẩy mạnh sản xuất hơn nữa, tiết kiệm hơn nữa vẫn được thường xuyên quán triệt. Dành gạo cho chiến đấu vẫn là khẩu hiệu hằng ngày của mỗi cán bộ chiến sĩ.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.

    Nổi bật

        Mới nhất

        Kỳ 13: Cuộc tập kết lần thứ hai
        • Mặc định