Kỳ 11: Xây dựng chủ lực tại chỗ
Mỹ vào đông tuy có làm thay đổi về tương quan lực lượng, nhưng vẫn có lợi cho ta. Mặc dù quân Mỹ có 46 tiểu đoàn, quân ngụy có 150 tiểu đoàn, trong khi đó quân Mỹ phải đóng 96 cứ điểm, quân ngụy phải phân tán hơn 3.000 đồn bốt và căn cứ. Do vậy dù tăng đến 20 vạn nhưng quân Mỹ vẫn không có lực lượng cơ động. Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 dự định là lực lượng cơ động, trên thực tế sư đoàn này cũng chỉ sử dụng được một lữ đoàn. Một vấn đề rất quan trọng là chủ trương chiến lược cũng như chủ trương tác chiến của những người trong cơ quan lãnh đạo nước Mỹ bộc lộ nhiều điểm vừa mâu thuẫn vừa không nhất quán, ví như đánh lâu dài hay đánh nhanh thắng nhanh, phân tán hay tập trung, cơ động hay chiếm đất, v.v... Mặt khác về vũ khí trang bị của quân Mỹ cũng chưa thích hợp. Vũ khí sản xuất để sử dụng ở chiến trường châu Âu nay phải tung ra dùng ở vùng nhiệt đới châu Á nên tác dụng hạn chế mà tốn phí lớn. Điều đó chứng tỏ Mỹ chưa có sự chuẩn bị đầy đủ cho chiến trường này. Vì vậy, họ đã phải cử sang Việt Nam mấy trăm nhà khoa học để nghiên cứu từ vải mặc, màu sắc đến việc bảo quản vũ khí, lương thực, thuốc chữa bệnh sốt rét, thuốc chống côn trùng và rắn độc ở miền nhiệt đới. Một vấn đề nan giải khác là việc tiếp tế cho quân chiến đấu Mỹ. Cứ một lính Mỹ một ngày cần 29 kg và lính ngụy cần 7 kg từ lương thực thuốc men, nước uống đến vũ khí đạn dược... Trong khi đó chúng gặp không ít khó khăn về phương tiện, bến bãi, kho tàng, lực lượng bốc xếp và lực lượng bảo vệ từ cảng về các vị trí đóng quân. Như vậy, khả năng tăng quân chiến đấu của Mỹ và chư hầu không phải là vô giới hạn, bởi nếu tăng 40 vạn quân thì chúng phải giải quyết khâu vận chuyển với khối lượng khổng lồ. Trước tình hình trên, ngày 27 tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 12 định ra nhiệm vụ: Động viên lực lượng của cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Và xác định: Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, của cả nhân dân ta từ Nam chí Bắc. Vấn đề đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta lúc đó là phải tập trung lực lượng của cả nước kiên quyết đánh địch và thắng địch trên chiến trường chính miền Nam. Ta chủ trương kiên trì phương châm ra sức hạn chế cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó là thắng địch một cách có lợi nhất cho cách mạng nước ta và cách mạng thế giới; tiếp tục phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, thực hiện ba mũi giáp công, trong đó đòn quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng, nhưng đấu tranh quân sự chỉ thu được kết quả lớn nhất nếu nó được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. Ta cố gắng cao độ để tranh thủ thời cơ tăng cường lực lượng về mọi mặt, chủ động liên tiếp tiến công địch, tiêu diệt tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, do đó mà đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Mặt khác chúng ta vẫn phải ra sức chuẩn bị để thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài và mở rộng ra cả nước. Chúng ta cũng cần hết sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và viện trợ quốc tế, một nhân tố góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân ta, do đó cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị ngoại giao.
Tôi còn nhớ Nghị quyết lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương đã ra lời kêu gọi: Chúng ta đang tiến hành một cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại nhất trong lịch sử nước nhà, một cuộc chiến tranh cách mạng vừa để giải phóng dân tộc, vừa để bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa cống hiến vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Do đó trong giai đoạn lịch sử quang vinh này của Tổ quốc, chúng ta phải có tinh thần chiến đấu cao, dũng cảm phi thường, phải có chí khí anh hùng và quyết tâm dời non lấp biển, đạp bằng bất cứ trở lực nào, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, đánh bại bất cứ kẻ thù nào.
Đáp lời kêu gọi của Đảng, nhân dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc bừng bừng khí thế thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Trên chiến trường Tây Nguyên, Đảng ủy Mặt trận kịp thời đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên là kiên định lập trường, vượt qua khó khăn, vượt qua ác liệt đánh thật nhanh, mạnh, liên tục, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ và quân chủ lực ngụy, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng diệt kìm, phá ấp, mở rộng vùng giải phóng, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, củng cố căn cứ địa hậu phương trực tiếp của chiến trường. Trên cơ sở sự chi viện của hậu phương lớn, nhiệm vụ đó đặt ra cho đảng bộ và lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên phải nỗ lực vượt bậc chạy đua với thời gian về mọi mặt để kịp thời đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng lớn của chiến trường và phương hướng chiến lược của Bộ.
Tháng 12 năm 1965, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 1 gồm các trung đoàn 33, 66, 320 là những trung đoàn đã cùng chiến đấu trong chiến dịch Plây Me – Ia Đrăng do anh Nguyễn Hữu An làm sư đoàn trưởng, anh Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Lực lượng pháo binh của Tây Nguyên cũng có sự phát triển mới. Ngoài lực lượng pháo cối, pháo phòng không hiện có, Bộ đã bổ sung cho Tây Nguyên tiểu đoàn cối 120 ly, tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7 ly.
Như trên tôi đã đề cập, tác chiến của các binh đoàn chủ lực có phát triển mạnh mẽ và vững chắc là phải dựa vào sự phát triển của chiến tranh du kích. Ngược lại chiến tranh phát triển đến mức độ nào đó mà không có tác chiến của các binh đoàn chủ lực hỗ trợ thì cũng khó phát triển. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa hai lực lượng để tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân hùng mạnh vững chắc.
Để vận dụng được quy luật đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển cùng với chiến tranh chính quy phù hợp đặc điểm chiến trường Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận xác định phải xây dựng hai khối chủ lực: khối chủ lực cơ động và khối chủ lực tại chỗ. Hai khối chủ lực này sẽ cùng với lực lượng vũ trang địa phương tiến hành và đẩy mạnh chiến tranh nhân dân.
Thời gian này, lực lượng địa phương ba tỉnh đã phát triển khá mạnh. Ở Kon Tum có 1 tiểu đoàn và 6 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo cối. Ở Gia Lai có 1 tiểu đoàn, 2 đại đội và 11 trung đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo cối. Ở Đắc Lắc có 1 tiểu đoàn và 4 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo cối. Lực lượng này đã hình thành khá cân đối giữa bộ binh với đặc công và pháo binh, giữa tỉnh và huyện. Về lực lượng du kích, Tỉnh ủy Gia Lai có nghị quyết: Đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu trong việc xây dựng lực lượng vũ trang. Hai phần ba số đảng viên và 100% số đoàn viên phải vào du kích. Do vậy toàn tỉnh Gia Lai có 8.541 du kích, trong đó có 887 nữ, tỷ lệ 6,9% số dân vùng giải phóng. Đảng viên chiếm 7,2%. Có huyện như huyện 5 (Chư Pông) đạt 16% số dân tham gia du kích. Về trang bị trung bình 9 du kích có 1 súng, số còn lại trang bị vũ khí thô sơ.
Ở Kon Tum, tỉnh cũng đặt vấn đề xây dựng du kích phải đạt 3 tính chất: quần chúng, giai cấp và quân sự. Tổng số du kích toàn tỉnh là 4.736 người, chiếm 14% dân số vùng giải phóng. Du kích nữ chiếm 25%. Cứ 12 du kích có 1 đảng viên, 3 du kích trang bị 1 súng.
Ở Đắc Lắc, tổng số du kích là 2.740 người, đạt tỷ lệ 9% dân số vùng giải phóng. Du kích nữ chiếm 30%.
Như vậy, lực lượng dân quân du kích xã, thôn lên tới 16 nghìn người, số đông đã qua chiến đấu. Những vành đai diệt Mỹ bắt đầu hình thành quanh các căn cứ địch.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.