Trận đánh
Kỳ 24: Diễn biến tại Tây Nguyên năm 1972
Từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 2 năm 1972, Đảng ủy Mặt trận Cánh Đông tiến hành hội nghị quán triệt nhiệm vụ và thông qua kế hoạch tác chiến. Hội nghị tập trung thảo luận tình hình nhiệm vụ mới của Tây Nguyên, đặc biệt là nhiệm vụ của Mặt trận Cánh Đông. Đảng ủy phân tích sâu sắc những vấn đề về phương án tác chiến, nhất là công tác bảo đảm hậu cần. Do tình hình gạo, đạn gặp khó khăn có ý kiến cho rằng “chỉ đánh quận lỵ Đắc Tô, khi có điều kiện mới đánh Tân Cảnh”. Đảng ủy đã kiên quyết bác bỏ ý kiến này và hạ quyết tâm khắc phục mọi khó khăn tiêu diệt cho được căn cứ Tân Cảnh.
Quyết tâm là vậy, ngày nổ súng đã tới gần nhưng đường sá mở chưa xong, địch đánh phá ngày càng ác liệt, sức vận chuyển bị hạn chế rất nhiều. Theo số liệu còn lưu lại trong cuốn sổ công tác số 26 của tôi, tính đến ngày 7 tháng 4 năm 1972, Bộ mới giao cho Tây Nguyên 25% kế hoạch, trong đó gạo dự trữ cho chiến dịch chỉ được 35%. Mặt hàng lại không đáp ứng yêu cầu, không đồng bộ, một số còn để cách đến 100km (binh trạm 37). Để giải quyết tình trạng trên, một mặt chúng tôi huy động bộ đội tự vận chuyển lương thực, đạn dược, mặt khác yêu cầu tỉnh Kon Tum giúp đỡ.
Ngày 3 tháng 3 năm 1972, tôi và anh Đặng Văn Khoát (chủ nhiệm hậu cần) cùng một số cán bộ cơ quan về làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum ở xã Ngọc Lây, huyện 80 (Đắc Tô). Như đoán biết được tình hình khó khăn của chúng tôi, anh Phan Phụ (tức Quyết) thông báo luôn: Ngay từ đầu năm 1972, tỉnh ủy Kon Tum đã chủ động động viên nỗ lực cao nhất của quân và dân trong tỉnh. Các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, du kích, đội vũ trang công tác đều được tăng cường bổ sung quân số. Các lực lượng quân, dân, chính, đảng đều được chỉnh huấn, học tập quán triệt tình hình nhiệm vụ mới. Tại vùng căn cứ đảng bộ lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, tích cực trồng thêm các loại hoa màu phụ, nhất là sắn. Khắp các buôn làng đâu đâu cũng vang lên tiếng chày giã gạo thâu đêm, chuẩn bị lương thực cho bộ đội đánh giặc. Theo kế hoạch trong đợt này tỉnh Kon Tum ủng hộ bộ đội B3: 300 tấn gạo. Riêng huyện 80 ủng hộ 180 tấn, huyện 16 ủng hộ 95 tấn.
Ngoài ra tỉnh còn huy động hàng nghìn dân công tham gia gùi đạn, tải thương, vận chuyển hàng hóa, mở đường quân sự. Để giải quyết khó khăn trước mắt, đồng bào các dân tộc huyện 80 còn ủng hộ bộ đội Mặt trận Cánh Đông 56 tấn sắn tươi. Khó có thể tưởng tượng nổi, bộ đội trung đoàn 66 đã vào vị trí tập kết vẫn phải cử người đeo gùi trở lại phía sau để lấy sắn về cho đơn vị.
Tỉnh ủy Kon Tum còn chỉ thị cho bệnh xá tỉnh đội đóng trên ngọn Ngọc Ny Ay mở rộng, sẵn sàng đón thương binh Mặt trận Cánh Đông.
Những tình cảm sâu nặng, những đóng góp lớn lao của người dân Kon Tum trong chiến dịch Xuân Hè năm 1972 cho đến bây giờ vẫn vẹn nguyên tươi rói trong tôi.
Ngày 27 tháng 3 năm 1972, tôi về dự hội nghị đảng ủy trung đoàn 66 quán triệt nhiệm vụ chiến dịch. Chưa bao giờ tôi thấy trên gương mặt của các anh Lưu Quý Ngư, Phùng Bá Thường, Trịnh Hữu Tân, Võ Quang Tịnh, Nguyễn Đình Kiệp, Phạm Văn Vượng... lại rạng rỡ tự tin đến thế, tuy vào thời điểm này các anh vẫn phải ăn bo bo và sắn luộc bởi lẽ gạo chuyển ra chưa kịp. Họ tự tin có lý, bởi những con người này đều dạn dày trận mạc. Chính các anh đã làm nên chiến thắng Ia Drăng, Sa Thầy, Đức Vinh, Đắc Tô, Ngọc Rinh Rua và hôm nay trong thế trận chung lại được chuẩn bị kỹ càng, hàng nghìn con người của trung đoàn đều náo nức xung trận. Phát biểu với hội nghị, tôi nói:
– Đảng ủy trung đoàn đã quán triệt nhiệm vụ, thấy rõ vinh dự, xác định trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Là một trung đoàn có kinh nghiệm chiến đấu, có thể chỗ này chỗ khác còn phải bổ sung, nhưng những vấn đề cơ bản đã được các đồng chí xác định đúng đắn.
Thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch này các đồng chí cần làm tốt một số vấn đề:
Về tư tưởng, phải làm cho cán bộ, chiến sĩ, đảng viên đoàn viên trung đoàn nhất trí cao với hình thức tác chiến đánh công sự vững chắc. Vì chỉ khi nào tiêu diệt quân địch trong công sự vững chắc thì mới đánh vỡ tuyến phòng thủ cơ bản của địch, mới tiêu diệt quân địch tại trận địa của chúng và cuối cùng mới đánh bại hoàn toàn chúng. Những vấn đề này đã trở thành niềm thôi thúc cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên trong nhiều năm. Những cuộc tập huấn ở mặt trận đã tập trung nghiên cứu chiến thuật đánh công sự vững chắc. Khắp các đơn vị trên toàn mặt trận đều tham gia đánh công sự vững chắc. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định xây dựng trung đoàn 66 là đơn vị nghiên cứu chiến thuật này. Vừa qua trong đại hội đảng trung đoàn các đồng chí đã thảo luận sôi nổi và ra nghị quyết xây dựng chiến thuật đánh công sự vững chắc cho đơn vị. Các đồng chí đã tập trung xây dựng đại đội 6 tiểu đoàn 8, đại đội 3 tiểu đoàn 7, đại đội 11 tiểu đoàn 9 là những đại đội mở cửa. Trong các đại đội này các đồng chí tập trung xây dựng trung đội mở cửa như thế là rất tốt. Mong rằng các đồng chí tiếp tục giáo dục để cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn thông suốt cách đánh, quán triệt tư tưởng chiến thuật mới, từ đó làm cơ sở giải quyết vấn đề khác. Phải xây dựng trung đoàn có tinh thần tự cường, không ỷ vào hỏa lực, không ỷ lại đơn vị bạn. Đảng ủy cần tập trung xây dựng tinh thần tiến công liên tục, tiến công triệt để. Các đồng chí phải khắc phục tình trạng “đầu gối huân chương, mình đắp cờ danh dự nằm ngủ”, kiên quyết chống tư tưởng thỏa mãn, nửa chừng dừng lại. Trong chiến dịch này, sau khi đánh xong C1 (căn cứ Tân Cảnh) các đồng chí phải nhanh chóng xốc lại đội hình làm dự bị cho Sư đoàn 2 đánh vào quận lỵ Đắc Tô. Đảng ủy cần làm tốt đoàn kết hiệp đồng, học tập đơn vị bạn, không được huênh hoang.
Trung đoàn 66 cần nhận rõ vinh dự của mình là đơn vị luôn luôn đi đầu giải quyết các nhiệm vụ về chiến thuật đặt ra trong các thời kỳ của cuộc chiến trên chiến trường. Mong rằng các đồng chí hãy phát huy truyền thống đó để làm tốt nhiệm vụ trong chiến dịch lịch sử này, trước hết là nhiệm vụ C1.
Để vây hãm chặt quân địch ở Đắc Tô – Tân Cảnh và Kon Tum, chúng tôi thực hành hai tầng chia cắt chiến dịch. Tầng thứ nhất, cắt đường 14 đoạn Kon Kô – Võ Định do trung đoàn 28 đảm nhiệm; tầng thứ hai, cắt đường 14 đoạn từ cầu Ia Tô Ve đến chân núi Chu Thoi do trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24), tiểu đoàn 631 và hai đại đội 31, 32 của huyện 4 Gia Lai đảm nhiệm. Lực lượng vây hãm căn cứ Đắc Tô 2, sân bay Phượng Hoàng do trung đoàn 1 Sư đoàn 2, tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 và tiểu đoàn bộ binh 304 của tỉnh Kon Tum đảm nhiệm. Toàn bộ lực lượng trên đã triển khai và bước vào hoạt động đúng kế hoạch.
Ngày 30 tháng 3 năm 1972, để phối hợp với chiến trường toàn Miền, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Sư đoàn 320 dùng trung đoàn 52 vây ép tiểu đoàn 2 lữ dù 2 ở điểm cao 1049 (địch gọi là căn cứ Đen-ta). Bị vây ép mạnh, địch co dồn lại, ta ngày càng siết chặt. Đến 3 giờ ngày 3 tháng 4, trung đoàn 52 được lệnh tiến công. Sau 3 tiếng đồng hồ chiến đấu tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 6 đã chiếm được sở chỉ huy tiểu đoàn 2 của địch. Nhưng do tổ chức lùng sục tảo trừ chưa tốt, bộ đội mất cảnh giác nên bị tàn binh địch cụm lại gọi pháo binh và máy bay đánh trùm lên trận địa rồi phản kích chiếm lại. Bộ đội bị thương vong, trung đoàn 52 phải lui quân về tuyến xuất phát.
Ngày 7 tháng 4 Bộ tư lệnh Mặt trận chỉ thị cho Sư đoàn 320 dùng trung đoàn 64 bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 11 lữ dù 3 mới đổ xuống chiếm giữ điểm cao 1015 (địch gọi là căn cứ Sác-ly); đồng thời lệnh cho trung đoàn 52 dùng tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn đặc công 19 tiếp tục vây ép giữ chân địch ở điểm cao 1049, khi có thời cơ tiến công dứt điểm căn cứ này.
5 giờ 50 phút ngày 12 tháng 4 năm 1972, hai trận địa pháo 122 và Đ74 cùng cối 120 ly nã những quả đạn chính xác xuống điểm cao 1015. Khi pháo chiến dịch chuyển làn kiềm chế pháo binh địch, trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến ra lệnh cho tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9 xung phong.
Tôi được anh em trung đoàn 64 kể lại: Ở hướng chủ yếu do tiểu đoàn 9 đảm nhiệm, cuộc chiến đấu ở đây diễn ra quyết liệt. Địch tập trung tất cả các loại hỏa lực vào hai cửa mở của đại đội 10. Bộ đội ta không tiến lên được. Đại đội trưởng Đặng Văn Lưu bất chấp nguy hiểm vượt lên chỉ huy trung đội 3 mở cửa. Tổ mở cửa của trung đội 3 chỉ còn 3 người. Chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Điện ôm bộc phá lao lên phá tung hàng rào cuối cùng. Các chiến sĩ trung đội 3 xông lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu.
Mũi đột phá thứ hai của đại đội 10 do đại đội phó Nguyễn Văn Hòa chỉ huy phát triển thuận lợi hơn. Khi pháo ta vừa chuyển làn tổ mở cửa xông lên mở hết hàng rào rồi ào ạt đánh vào chi viện cho trung đội 3. Đến 13 giờ tiểu đoàn 9 đã hoàn toàn làm chủ mục tiêu được phân công.
Trên hướng tiểu đoàn 8, cuộc chiến đấu diễn ra cũng hết sức quyết liệt. Dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp và chính trị viên Nguyễn Văn The, các tổ hỏa lực của ta bắn rất chính xác vào các mục tiêu, chi viện đắc lực cho tổ bộc phá mở cửa của đại đội 7. Cửa mở thông, cả đơn vị tràn lên đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ. Nhưng khi áp sát sở chỉ huy tiểu đoàn 11 thì đại đội 7 bị chặn lại. Từ trên cao địch có thể quan sát và khống chế mọi hành động của bộ đội ta. Chúng gọi máy bay đến ném bom bắn phá vào trận địa của tiểu đoàn 8. Một quả bom rơi trúng hầm chỉ huy tiểu đoàn 8. Tiểu đoàn trưởng Hiệp và chính trị viên The hy sinh. Chỉ huy trung đoàn đã giao cho đồng chí Thoan, tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 8, xốc lại đội hình, giữ vững thế trận.
Những ngày tiếp theo cuộc chiến đấu của trung đoàn 64 diễn ra quyết liệt hơn. Lợi dụng độ dốc và trống trải địch có thể quan sát chống trả lại ta. Các trận địa pháo từ Ngọc Bờ Biêng, điểm cao 966, Diên Bình, Đắc Vát cũng thay nhau bắn như đổ đạn vào các tuyến vây ép của trung đoàn 64. Tuy vậy các chiến sĩ trung đoàn 64 bất chấp ác liệt, hy sinh gan góc bám giữ trận địa có thời cơ là tiến công tiêu diệt địch.
19 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4, Sư đoàn 320 tung tiểu đoàn 3 tiếp sức cho tiểu đoàn 9 đồng thời ra lệnh cho hai đơn vị này tiến công địch ngay trong đêm; đồng thời điều thêm tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 vào khu vực Ngọc Di Óc đón lõng quân địch ở điểm cao 1015 chạy về.
1 giờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 9 bắt đầu tiến công địch. Chỉ sau 15 phút quân ta đã làm chủ trận địa. Quân địch còn lại tháo chạy về hướng đông, lọt vào trận địa của đại đội 5 và đại đội 6 liền bị hai đơn vị này đánh chặn, diệt 80 tên. Số còn lại xô đạp lên nhau chạy về phía Ngọc Di Óc, lại sa vào trận địa giăng sẵn của tiểu đoàn 2, toàn bộ quân địch bị diệt và bị bắt làm tù binh.
Sau 3 ngày chiến đấu, trung đoàn 64 và tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 11 lữ dù 3, diệt 260 tên, bắt sống 166 tên (có 1 trung tá, 1 thiếu tá, 2 đại úy, 5 trung úy), bắn rơi 20 máy bay các loại, thu toàn bộ vũ khí quân trang, quân dụng. Tiểu đoàn 11 cũng là tiểu đoàn đầu tiên bị diệt gọn ở Tây Nguyên.
Đây là lần thứ hai trung đoàn 64 đọ sức với lữ dù 3. Lần trước, trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, trung đoàn đã diệt 2 tiểu đoàn của lữ đoàn này, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ – lữ đoàn trưởng. Và lần này, trên chiến trường Tây Nguyên, trung đoàn 64 trong trận then chốt thứ nhất tuy kéo dài nhưng thu được thắng lợi lớn buộc quân dù phải rút bỏ các vị trí còn lại lui về cùng quân đoàn 2 ngụy củng cố tuyến phòng ngự từ Võ Định đến thị xã Kon Tum.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.