Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 23: Công tác chuẩn bị trước năm 1972

• 26/06/2026 11:25

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược Xuân Hè năm 1971 của quân và dân ba nước Đông Dương làm cho cục diện chiến tranh đã thay đổi quan trọng. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ bị thất bại nặng nề. Mỹ – ngụy buộc phải chuyển hẳn vào thế phòng ngự chiến lược. Quân ngụy Sài Gòn tuy còn trên một triệu quân, được Mỹ trang bị thêm nhiều súng đạn và phương tiện kỹ thuật chiến tranh, nhưng sức chiến đấu đã bị sa sút nặng. Việc bổ sung quân gặp nhiều khó khăn. Sau đợt rút quân tháng 3 năm 1972, quân viễn chinh Mỹ còn khoảng 9,5 vạn tên, nhưng trên thực tế đã chấm dứt hoạt động chiến đấu bằng bộ binh trên chiến trường. Nếu so sánh cục diện chiến tranh, rõ ràng: Ta đang ở thế thắng, thế đi lên! Mỹ – ngụy đang ở thế thua, thế đi xuống! Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, với tiềm lực chiến tranh lớn họ vẫn tiếp tục thực hiện những âm mưu và hoạt động chiến tranh phiêu lưu nhằm chống lại nhân dân ba nước Đông Dương, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần số quân Mỹ còn lại, tạo điều kiện để mặc cả với ta trên thế mạnh ở Hội nghị Pa-ri, đồng thời xoa dịu phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam của nhân dân Mỹ, mở đường cho Ních-xơn tái cử tổng thống trong cuộc bầu cử vào cuối năm 1972.

Tháng 8 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã họp, ra nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng chiến lược Đông Nam Bộ, Trị Thiên và Tây Nguyên nhằm đẩy mạnh đánh phá “bình định” của địch ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, phát huy thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi cục diện chiến tranh. Chiến trường miền Đông Nam Bộ được chọn là hướng tiến công chủ yếu vì đánh vào đây sẽ có tác động lung lay mạnh đến Sài Gòn. Nhưng thông qua diễn biến trên chiến trường, nhất là việc chuẩn bị vật chất cho miền Đông Nam Bộ tuy có nỗ lực lớn song vẫn chưa bảo đảm được yêu cầu, vì vậy đến đầu tháng 1 năm 1972 Quân ủy Trung ương quyết định thay đổi hướng tiến công chiến lược chính là Trị Thiên. Hai chiến trường miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên chuyển thành hướng tiến công chiến lược phối hợp quan trọng. Theo tôi, việc thay đổi hướng tiến công chiến lược như vậy là một quyết định đúng đắn, sáng tạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; bởi vì chiến trường Trị Thiên tiếp giáp với miền Bắc – hậu phương chiến lược của cả nước, chẳng những có điều kiện tập trung lực lượng, bảo đảm vật chất cho một chiến dịch quy mô dài ngày, mà còn có thể phát huy cao độ những yếu tố thuận lợi giành thắng lợi lớn hơn, hoặc khi tình huống khó khăn có thể xử lý kịp thời.

Từ xác định nhiệm vụ chiến lược trên toàn Miền, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho chiến trường Tây Nguyên: Với lực lượng bản thân, cùng lực lượng và binh khí kỹ thuật tăng cường, tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực quân đoàn 2 và tổng dự bị ngụy, giải phóng Đắc Tô – Tân Cảnh, sau đó giải phóng thị xã Kon Tum, có điều kiện thì phát triển xuống Plây Cu, mở rộng vùng căn cứ tây Gia Lai và Đắc Lắc để hình thành một vùng căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ miền Đông Nam Bộ.

Căn cứ nhiệm vụ trên giao cuối tháng 10 năm 1971, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên chúng tôi họp bàn triển khai thực hiện. Với nhiệm vụ quân sự to lớn có ý nghĩa chiến lược chưa từng có trên chiến trường Tây Nguyên, các anh đảng ủy viên mặt trận đều phấn khởi, tự hào về sự trưởng thành lớn mạnh của lực lượng vũ trang toàn Miền nói chung và chiến trường Tây Nguyên nói riêng. Mở đầu cuộc họp anh Hoàng Minh Thảo – Tư lệnh mặt trận trình bày tình hình địch, ta trước khi bước vào chiến dịch Xuân Hè năm 1972, anh nói:

– Xuất phát từ ý đồ chiến lược Tây Nguyên là khu vực quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược của địch, nên mặc dù trong năm 1971 nhiều vị trí phòng ngự trên cao nguyên của vùng 2 chiến thuật bị ta đánh đi đánh lại nhiều lần, nhưng chúng vẫn ngoan cố phản kích chiếm lại, không chịu bỏ mất một mắt xích nào; bước vào năm 1972, Mỹ – Thiệu phán đoán rằng ta sẽ mở chiến dịch lớn ở Tây Nguyên nên ra sức đề phòng. Chúng dùng B52 đánh phá tập trung vào các tuyến đường vận chuyển, các khu vực kho tàng của ta. Chúng tập trung lực lượng vùng 2 chiến thuật gồm sư đoàn 22, sư đoàn 23, hai liên đoàn biệt động quân số 2 và số 6, sư đoàn dù (thiếu) – lực lượng tổng dự bị chiến lược, tất cả gồm 44 tiểu đoàn bộ binh. Về binh chủng, có 10 chi đoàn thiết giáp của 4 quân đoàn (3, 8, 14, 19), 7 tiểu đoàn pháo binh khoảng 160 khẩu từ 105 đến 175 ly. Khi tác chiến chúng được sư đoàn không quân 6 và các đơn vị không quân khác với khoảng 214 máy bay các loại chi viện. Ngoài ra địch còn có 14 tiểu đoàn và 14 liên đội bảo an. Tổng số quân địch tập trung ở khu vực chủ yếu của chiến dịch là 27 nghìn quân chủ lực và hàng chục nghìn quân địa phương.

Để ngăn chặn chiến dịch tiến công của ta, những người chỉ huy quân đội Mỹ – ngụy ở Sài Gòn và vùng 2 chiến thuật đã thực hiện biện pháp: Tăng cường các tuyến phòng ngự cơ bản ở khu vực bắc Kon Tum, trên đường 14 và đường 18. Đặc biệt ở Đắc Tô – Tân Cảnh địch hình thành một cụm phòng ngự dày đặc, gồm có sư đoàn 22 (thiếu), trung đoàn thiết giáp 14, hai tiểu đoàn biệt động biên phòng. Đồng thời địch hình thành tuyến ngăn chặn ở tây sông Pô Cô từ Ngọc Bờ Biêng đến Chu Gô Tông do lữ đoàn dù 2 đảm nhiệm để án ngữ, bảo vệ đường 14 và thị xã Kon Tum. Dùng sư đoàn 23 và 2 liên đoàn biệt động quân làm lực lượng dự bị bố trí ở Plây Cu và Buôn Ma Thuột. Những người chỉ huy quân đội Mỹ là những người biết nghiên cứu và rút kinh nghiệm nhanh. Họ rất chú trọng nghiên cứu từng đơn vị, từng trận đánh và thậm chí từng người chỉ huy của ta. Do vậy, mưu kế lừa địch phải coi là một nghệ thuật, nói đúng hơn đó là sự nhận thức quy luật chiến dịch và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể và tình huống cụ thể.

Về lực lượng ta, sau khi Bộ điều trung đoàn 24A vào miền Đông Nam Bộ, ở Tây Nguyên chỉ còn lại các trung đoàn 28, 66, 95 và trung đoàn 40 cùng một số đơn vị binh chủng kỹ thuật. Bộ Tổng tư lệnh bổ sung cho Tây Nguyên sư đoàn 320A, trung đoàn 24B, trung đoàn công binh 7, trung đoàn pháo binh 675, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly, tiểu đoàn xe tăng T54, 1 đại đội tên lửa chiến thuật B72, 1 đại đội pháo cao xạ tự hành 57 ly, 1 tiểu đoàn ô tô vận tải, 1 tiểu đoàn thông tin. Như vậy, bước vào chiến dịch Xuân Hè năm 1972 khối chủ lực Tây Nguyên đã có bước phát triển nhảy vọt cả về chất lượng và số lượng.

Sau khi trình bày nhiệm vụ trên giao cho Mặt trận Tây Nguyên là phải tiêu diệt từ 10 đến 15 tiểu đoàn bộ binh địch, trong đó có từ 2 đến 3 chiến đoàn, trung đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu 1 sư đoàn của quân đoàn 2 và một số lữ đoàn thuộc lực lượng dự bị, giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum, bao vây thị xã Plây Cu và Buôn Ma Thuột, giải phóng phần lớn nông thôn Tây Nguyên, thu hút và kiềm chế, giam chân một lực lượng quân chủ lực ngụy, phối hợp chặt chẽ với Khu 5 và toàn Miền, anh Hoàng Minh Thảo nói tiếp:

– Căn cứ so sánh tương quan lực lượng giữa địch và ta, căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, hướng chủ yếu của chiến dịch là Đắc Tô – Tân Cảnh, các hướng phối hợp là Gia Lai và Đắc Lắc. Dự kiến tiến trình chiến dịch gồm 3 bước:

Bước một: Tập trung lực lượng bao vây và tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn phòng ngự của sư đoàn 22 và các lực lượng tăng cường ở Đắc Tô – Tân Cảnh, đồng thời tiêu diệt quân dù trên dải ngăn chặn ở tây sông Pô Cô.

Bước hai: Đánh chiếm thị xã Kon Tum.

Bước ba: Bao vây Plây Cu và Buôn Ma Thuột, giải phóng nông thôn, khi có điều kiện thì tiến lên giải phóng hai thị xã trên.

Kết luận hội nghị, anh Trần Thế Môn, Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên nhấn mạnh: Động viên toàn đảng bộ, toàn thể lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên cùng nhân dân và cấp ủy địa phương nắm vững thời cơ mới, phát huy thế thắng, thế mạnh, thế chủ động tiến công trên cơ sở kiên trì đánh lâu dài mà nỗ lực vượt bậc, đẩy mạnh tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, kiên quyết đánh bại hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giải phóng toàn bộ nông thôn và 1 đến 2 thị xã, tiến lên giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc đế quốc Mỹ phải chịu thua và chấm dứt chiến tranh, chấp nhận một giải pháp chính trị theo điều kiện của ta.

Nhằm thực hiện thắng lợi quyết tâm chiến dịch và để tiện việc chỉ huy, tháng 2 năm 1972 Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thành lập Sở chỉ huy tiền phương của Mặt trận đứng chân ở phía đông Đắc Tô – Tân Cảnh, gọi tắt là Mặt trận Cánh Đông, mang mật danh Thăng Long. Mặt trận Cánh Đông, do anh Nguyễn Mạnh Quân – Phó tư lệnh Mặt trận – Tư lệnh; tôi (Đặng Vũ Hiệp) – Phó chính ủy Mặt trận – Chính ủy; anh Hồ Đê – Phó tư lệnh; anh Lã Ngọc Châu – Phó chính ủy. Một bộ phận các ngành của cơ quan mặt trận được tổ chức thành các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần do anh Trần Quốc Biên – Tham mưu trưởng; anh Nguyễn Hữu Hưu – Chủ nhiệm chính trị; anh Đặng Văn Khoát – Chủ nhiệm hậu cần.

Lực lượng trên Mặt trận Cánh Đông gồm các trung đoàn cũ của Tây Nguyên: trung đoàn 28 do anh Nguyễn Quốc Thước – trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Đằng – chính ủy; trung đoàn 66 do anh Phùng Bá Thường – trung đoàn trưởng, anh Lưu Quý Ngư – chính ủy; trung đoàn 95 do anh Huỳnh Nghị – trung đoàn trưởng, anh Lê Quang Mỹ – chính ủy; trung đoàn 24 do anh Hoàng Minh – trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Quang Thoan – chính ủy. Bước vào chiến dịch, Bộ tăng cường thêm Sư đoàn 2 (thiếu) do anh Nguyễn Chơn làm sư đoàn trưởng, anh Lê Đình Yên làm chính ủy.

Cuộc tiến công quy mô lớn có ý nghĩa chiến lược đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên đặt ra cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận nhiều vấn đề phải giải quyết. Nhiệm vụ chiến dịch là tiến công vào tuyến phòng ngự của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân. Muốn giải phóng được đất đai, vấn đề quan trọng là phải tiêu diệt được sinh lực địch. Trong nhiều năm qua bộ đội Tây Nguyên rất có kinh nghiệm lừa nhử địch ra ngoài công sự để tiêu diệt. Tình hình thực tế ở chiến trường trong năm qua cho thấy địch không còn khả năng chống chọi với ta ở bên ngoài, nhưng chúng cũng chưa chịu để mất một điểm nào trong tuyến phòng ngự. Chúng còn dựa được vào quân đông, hỏa lực nhiều, phương tiện cơ động nhanh nên chưa phải đã hoàn toàn cố thủ. Do vậy Bộ tư lệnh Mặt trận đề ra cách đánh chiến dịch là “vây hãm diệt sinh lực kết hợp với đột phá”. Trước tiên ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng của địch ở vòng ngoài, vây hãm những khu trung tâm phòng ngự làm cho lực lượng chiến dịch của địch suy yếu, sứt mẻ. Tiếp đó ta siết chặt, vây hãm làm cho địch trong công sự hoang mang, lúc đó mới tiến hành đột phá. Làm như vậy sẽ tạo được thời cơ, tạo được điều kiện để đột phá nhanh chóng và chắc thắng.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.