Trận đánh
Kỳ 21: Chiến dịch Đắc Xiêng
Đầu năm 1970, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ trương mở chiến dịch Đắc Xiêng nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực cơ động của địch, bao vây tiến lên dứt điểm giải phóng khu vực. Qua tác chiến nâng cao trình độ bộ đội chủ lực của ta, đánh bại chiến thuật của địch, thu hút, giam chân quân địch tạo điều kiện cho việc phá ấp, giành dân và phối hợp với chiến trường toàn Miền đánh bại thêm một bước âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” tạo điều kiện cho chiến dịch sau giành thắng lợi to lớn hơn. Thực hiện chủ trương trên, ngày 7 tháng 2 năm 1970, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận thành lập Bộ tư lệnh tiền phương Mặt trận để trực tiếp chỉ huy tác chiến trên hướng chủ yếu – Mặt trận Đắc Xiêng gồm: anh Vương Tuấn Kiệt – Tư lệnh; tôi (Đặng Vũ Hiệp) – Chính ủy, Bí thư Đảng ủy chiến dịch; anh Phan Hoan – Phó tư lệnh; anh Lã Ngọc Châu – Phó chính ủy; anh Nguyễn Đức Giá – Tham mưu trưởng; anh Lưu Quý Ngữ – Chủ nhiệm chính trị và anh Đặng Văn Khoát – Chủ nhiệm hậu cần.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có: trung đoàn 66 do anh Hồ Đệ – trung đoàn trưởng; anh Lê Ngọc Tuệ – chính ủy; trung đoàn 28 do anh Hoàng Nhiên – trung đoàn trưởng; anh Nguyễn Xuân Hệ – chính ủy; trung đoàn 40 do anh Nguyễn Hữu Quỳnh – trung đoàn trưởng; anh Lê Đình Nguyên – chính ủy và 2 tiểu đoàn đặc công số 20 và 37.
Bộ tư lệnh tiền phương Mặt trận sử dụng trung đoàn 28 làm nhiệm vụ vây ép trại biệt kích Đắc Xiêng, nhử địch ra để trung đoàn 66 đánh quân ứng cứu, giải tỏa.
5 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4, Tư lệnh mặt trận ra lệnh nổ súng. Hỏa lực đủ loại nhiều tầng của ta từ bốn hướng (tiểu đoàn 1, đại đội đặc công 21, đại đội 22 DKZ, đại đội 14 súng máy cao xạ 12,7 ly, đại đội 13 cối 82 ly) đua nhau trút đạn xuống căn cứ Đắc Xiêng.
Ngay từ phút đầu, đạn cối 120 ly của ta bắn trúng khu trung tâm căn cứ. Tiếp những ngày sau, trung đoàn 28 dùng DKZ, cối 82 ly liên tiếp bắn phá các mục tiêu trong đồn, diệt nhiều lô cốt, mục tiêu khu vực đầu cầu và sân bay. Cùng lúc bộ binh nhanh chóng áp sát hàng rào, các chiến sĩ B40, B41, đại liên, 12,7 ly diệt các mục tiêu hỏa điểm gần hàng rào và bắn quét vào bộ binh địch, không cho chúng ngóc đầu dậy; tạo thời cơ cho các chiến sĩ vây lấn phát triển chiến hào siết chặt vòng vây quanh đồn. Sân bay Đắc Xiêng bị khống chế hoàn toàn. Trên các hướng vây lấn ở phía đông và tây, tiểu đoàn 1 trung đoàn 28 đào chiến hào vào sát hàng rào siết chặt vòng vây. Quân địch trong đồn lâm vào tình trạng nguy khốn, bằng máy bộ đàm chúng kêu cứu đến lạc giọng xin cấp trên ứng cứu, giải tỏa. Nhưng mãi đến bốn ngày sau, địch mới hình thành thế trận phản kích. Những người chỉ huy quân đội Mỹ – ngụy ở Tây Nguyên đã huy động một nửa lực lượng dự trữ cơ động quân ngụy ở Tây Nguyên gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 4 chi đoàn thiết giáp và một lực hoàn chỉnh ở miền Đông Nam Bộ thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long và Phước Long. Khối chủ lực của ta đã phá vỡ được các khu vực phòng ngự mạnh nhất của địch, đã chiếm và đứng vững trên các địa bàn cơ động vùng rừng núi, giáp ranh và một số vùng quan trọng ở đồng bằng. Ta đã tạo ra được một cục diện mới trên chiến trường miền Nam làm thay đổi một phần quan trọng so sánh lực lượng có lợi cho ta mở ra một tình thế cách mạng rất thuận lợi.
Trong cuộc đọ sức lần này, quân ngụy được Mỹ xây dựng theo công thức của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã bị suy yếu sau những cuộc phiêu lưu ở Cam-pu-chia và Đường 9 – Nam Lào, đến đây đang đứng trước nguy cơ sụp đổ.
Trước tình trạng nguy khốn của quân ngụy Sài Gòn, chính quyền Ních-xơn đã phải tiến hành một chủ trương có ý nghĩa chiến lược vượt ra khỏi khuôn khổ của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tức là “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân để chi viện cho quân ngụy phản kích và cho hệ thống cố vấn Mỹ trở lại hoạt động đến cấp trung đoàn, nắm quyền chỉ huy để trực tiếp điều khiển cuộc chiến tranh.
Đối với miền Bắc Việt Nam, ngày 6 tháng 4, tổng thống Ních-xơn quyết định huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân cao nhất từ trước đến lúc bấy giờ đánh phá trở lại miền Bắc, nói là để trả đũa lại các cuộc tiến công của ta ở miền Nam. Ngày 9 tháng 5, Ních-xơn lại ra lệnh phong tỏa các cảng và vùng biển miền Bắc, tăng cường ném bom hệ thống giao thông trên bộ và đánh phá tất cả các cơ sở kinh tế và quốc phòng của ta. Ông ta trắng trợn tuyên bố: Thà thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống còn hơn thua trong cuộc chiến tranh này. Âm mưu của họ là bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ ngoài vào nước ta và từ miền Bắc vào miền Nam. Với thủ đoạn thâm độc này Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tính toán rằng chậm nhất trong vòng 3 tháng ta sẽ kiệt quệ và buộc phải thương lượng với họ trên thế yếu.
Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ ác liệt hơn, quy mô lớn hơn lần trước đã diễn ra.
Trở lại tình hình chiến trường Tây Nguyên. Sau khi Đắc Tô–Tân Cảnh bị tiêu diệt, lực lượng địch ở thị xã Kon Tum rất mỏng yếu, số cố vấn Mỹ đã “di tản” về Plây Cu, trong thị xã chỉ có hai tiểu đoàn chủ lực và một số đơn vị bảo an. Đại bộ phận sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động quân 6 (mới ở Nam Bộ ra thay cho lữ dù 2) vẫn phải rải quân ra đối phó trên đường 14 đoạn Lam Sơn–Trí Đạo.
Về phía ta, đường 50K chưa nối thông được với đường 14 ở phía bắc, đường 70B cũng chưa vượt qua điểm cao phía tây sông Pô Cô. Việc vận chuyển đạn, gạo và cơ động binh khí kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Ngày 25 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp nhận định: Ở Kon Tum địch sơ hở, nhưng ta chưa đủ điều kiện để đánh ngay. Ta cần phải nhanh chóng chuẩn bị vật chất, đường sá và cơ động lực lượng. Dự kiến ngày 10 tháng 5 sẽ tiến công vào thị xã. Đến ngày nổ súng công tác chuẩn bị không kịp nên lại phải kéo thêm thời gian.
Ngày 11 tháng 5, Ngô Du – tư lệnh quân đoàn 2 ngụy bị cách chức, thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn lên thay, việc đầu tiên của viên tư lệnh mới này là điều chỉnh lại lực lượng và đội hình phòng
Như vậy, ở khu vực bắc Đắc Xiêng, đã có 2 tiểu đoàn của trung đoàn 42 ngụy – lực lượng chủ yếu của cuộc hành quân giải tỏa mới. Song cả 2 tiểu đoàn này đều bị đánh phủ đầu. Trước tình huống đó Bộ tư lệnh Mặt trận Đắc Xiêng chỉ thị cho trung đoàn 66 chỉ để lại một bộ phận nhỏ sẵn sàng chặn đánh quân địch tiến theo trục đường 14 từ phía nam lên, còn toàn bộ lực lượng hành quân lên hướng bắc cùng trung đoàn 28 và tiểu đoàn 5 (trung đoàn 24) chuẩn bị đánh ở khu quyết chiến mới. Ta chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt tiểu đoàn 1, ngăn chặn tiểu đoàn 3 sau đó sẽ tập trung tiêu diệt nốt.
Tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) bám chặt tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42 ngụy) liên tiếp đánh những trận tiêu diệt nhỏ. Bọn địch bị dồn ép, lúng túng không sao thoát ra được, cuối cùng chúng phải co cụm lại để cứu lấy mình.
Tiểu đoàn 3 trung đoàn 28 cùng tiểu đoàn 8 của trung đoàn 66 mở nhiều đợt tiến công vào quân địch. Đến 15 giờ ngày 22 tháng 4, tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 8 đã làm chủ trận địa, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 1, diệt 344 tên, bắt 44 tù binh. Tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42 ngụy) bị diệt, thế trận của ta càng thêm vững chắc. Ở sườn phía đông nam núi Éc, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42 ngụy) bị cô lập hoàn toàn.
Chiều ngày 22 tháng 4, tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) được bổ sung 100 chiến sĩ mới quê Phú Thọ đã nhanh chóng chấn chỉnh biên chế, nhận thêm trang bị và bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn 8, sau khi cùng đơn vị bạn diệt gọn tiểu đoàn 1 ngụy đã nhanh chóng hành quân đêm về đội hình trung đoàn tiếp tục cuộc chiến đấu mới.
Đêm ngày 22 tháng 4, tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 bí mật khép kín vòng vây. Từng phút, từng phút quân ta siết lại dần. Tiểu đoàn 3 ngụy càng khốn quẫn. Đạn dược của chúng đã gần cạn. Ở nhiều hướng súng đại liên địch phải bắn phát một cầm chừng. Nhiều tên bị thương không mang đi được, khát nước kêu gào trong các ngách hào. Những xác chết nằm phơi dưới nắng ngay trên các bờ công sự bắt đầu trương phình, bốc mùi hôi thối. Trong
khi đó đài quan sát pháo binh hiệu chỉnh cho những quả đạn cối 82, 120 ly bắn từng quả đạn chính xác vào các cụm quân địch.
Các trận địa pháo ĐKB của trung đoàn 40 liên tiếp nã đạn vào các trận địa pháo của địch ở Play Cần, Pô Cô Hạ hạn chế tối đa sự chi viện của pháo binh địch cho đồng bọn ở Đắc Xiêng.
Trên đỉnh núi Éc, trung đoàn 28 kiên cường chiến đấu vừa đánh bộ binh địch, vừa tích cực dùng súng 12,7 ly và súng tiểu liên AK bắn máy bay địch, có ngày bắn rơi 7 chiếc trực thăng.
Đêm ngày 25 tháng 4, trung đoàn 66 chỉ thị cho súng ĐKZ và súng 12,7 ly đưa lên đội hình bộ binh để chi viện xung phong. Tuyến công sự thứ nhất của địch đã nằm trong tầm hỏa lực của ta.
5 giờ sáng ngày 26 tháng 4, đúng lúc quân địch nhốn nhác rời công sự rút chạy bộ đội ta liền nổ súng. ĐKZ 75, đạn 12,7 ly bắn thẳng chính xác vào các cụm quân địch làm cho chúng vô cùng kinh hoàng. Đạn cối 120 ly, 82 ly rót từng quả chính xác vào đội hình rút chạy của đám quân ngụy. Các chiến sĩ bộ binh vừa nổ súng tiến công vừa hình thành thế vây quân địch. Tiểu đoàn 3 ngụy bị “vo tròn” lại, đến 7 giờ 30 phút thì bị các chiến sĩ tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 “bóp bẹp” hoàn toàn. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 ngụy bị xóa sổ, hơn 200 tên bị chết tại trận, 126 tên bị bắt làm tù binh. Ta thu 122 súng các loại, bắn rơi 16 máy bay (2 phản lực, 1 AD6, 13 trực thăng).
Trận tiêu diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 ngụy là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao. Bộ đội ta đã hoàn thiện hình thức chiến thuật mới: bao vây chặt quân địch, sau đó liên tục công kích cho đến khi dứt điểm làm chủ trận địa. Một lần nữa chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục được vận dụng đạt hiệu quả tốt.
Ngay sau chiến dịch Đắc Xiêng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bí thư Quân ủy Trung ương gửi điện khen cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên. Bức điện có đoạn: “Đợt hoạt động vừa qua, các đồng chí đã nêu cao quyết tâm khắc phục khó khăn, chiến đấu liên tục lập nhiều chiến
Nam không xấu hơn đối với chúng... Mặt khác cũng do tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp mới. Nhân dân phải luôn luôn vững vàng nâng cao cảnh giác, tích cực đề phòng, tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chúng tôi chủ trương tập trung củng cố bộ đội, bố trí lại thế trận chiến dịch cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt địch, giành dân, bảo vệ vùng giải phóng với khả năng và cơ sở vật chất hiện có.
Tháng 6 năm 1972, Bộ điều Sư đoàn 2, trung đoàn 52 (Sư đoàn 320) và trung đoàn công binh 83 về Quân khu 5.
Đầu tháng 7 năm 1972, Sư đoàn 320 (thiếu) hành quân vào tây nam thị xã Plây Cu, đứng chân trên địa bàn huyện 4 và huyện 5 tỉnh Gia Lai, chủ yếu trên trục đường 14 đoạn từ Hòn Rồng đi bắc Phú Nhơn và trên đường 19 từ ngã ba Hòn Rồng đoạn nối đường 14 qua Thanh An lên Đức Cơ, mở mặt trận mới ở đây.
Trung đoàn 24 được điều vào khu vực Cheo Reo, Phú Thiện. Cũng vào thời điểm này Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập trung đoàn 25, đứng chân ở bắc Buôn Ma Thuột.
Trên Mặt trận Cánh Đồng chỉ còn lại ba trung đoàn 28, 66, 95, một số tiểu đoàn pháo binh và binh chủng kỹ thuật. Trung đoàn 66 và trung đoàn 28 cùng lực lượng pháo binh thay phiên nhau vừa củng cố huấn luyện, vừa tiếp tục bao vây thị xã Kon Tum, tiêu diệt địch ngăn ra bảo vệ vùng giải phóng. Trung đoàn 95 cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai tiếp tục đánh giao thông, từng thời gian làm chủ đường 14, cô lập thị xã Kon Tum, uy hiếp thị xã Plây Cu.
Sau đòn tiến công Xuân Hè của ta, quân ngụy ở Tây Nguyên đã lún sâu vào thế bị động lúng túng. Chúng không còn khả năng mở những cuộc hành quân lớn và buộc phải lui về cố thủ thị xã và những căn cứ quân sự hiểm yếu ở vùng ven.
Lực lượng cách mạng ở Tây Nguyên đã có bước trưởng thành vượt bậc, vùng giải phóng rộng lớn nối liền ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc nay được mở rộng và củng cố vững chắc. Cơ sở chính trị vùng giải phóng và trong vùng địch tạm thời kiểm soát không ngừng phát triển vững mạnh. Lực lượng vũ trang địa phương đã trưởng thành, có khả năng độc lập tác chiến, tiêu diệt gọn từng đại đội địch trong và ngoài công sự. Nhiều đội công tác vũ trang, biệt động đã được thành lập và bước vào hoạt động mạnh trong các thị xã, thị trấn là mối lo sợ thường xuyên đối với kẻ thù.
Thời gian này, đường hành lang chiến lược từ miền Bắc vào Tây Nguyên đang bị máy bay Mỹ đánh phá ngăn chặn ác liệt nhưng chúng cũng không thể ngăn nổi sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn. Cuối tháng 8 năm 1972, chính cơ quan tình báo Mỹ đã báo cáo với tổng thống Ních-xơn rằng: Mặc dù ném bom rất ác liệt, vẫn không giảm được một cách có ý nghĩa việc đưa người và trang bị vào miền Nam Việt Nam. Mạng đường chiến dịch của ta đã bảo đảm cho xe cơ giới đưa binh khí kỹ thuật đến sát vùng ven thị xã. Lượng dự trữ hậu cần đã đáp ứng cho đánh tập trung hiệp đồng binh chủng. Tình hình đó đặt ra cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên phải có nhiều hơn nữa các đơn vị tập trung đủ sức đánh thẳng vào các cụm cứ điểm lớn, các thị xã, thành phố nhằm tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, tạo nên bước phát triển mới trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh giải phóng.
Được sự chuẩn y của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20 tháng 9 năm 1972, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập Sư đoàn 10. Bộ tư lệnh và cơ quan Mặt trận Cánh Đồng được chuyển thành Bộ tư lệnh và cơ quan sư đoàn. Anh Nguyễn Mạnh Quân giữ chức sư đoàn trưởng, tôi (Đặng Vũ Hiệp) giữ chức chính ủy, anh Hồ Đệ giữ chức sư đoàn phó, anh Lã Ngọc Châu giữ chức phó chính ủy.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.