Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 20: Thí điểm chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” tại Tây Nguyên

• 26/06/2026 11:21

Thắng lợi mùa Xuân năm 1968 trên chiến trường Tây Nguyên đã góp phần vào thắng lợi chung của cả nước, tạo ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh giải phóng, đẩy địch lùi vào thế phòng ngự chiến lược. Tuy trên chiến trường chưa có một sư đoàn nào của quân Mỹ bị tiêu diệt gọn, nhưng không một đơn vị nào là không bị đánh thiệt hại nặng nề, không một căn cứ đóng quân nào của quân Mỹ không bị tiến công. Những thực tế đắng cay trên chiến trường đã làm cho nước Mỹ chán nản, chia rẽ sâu sắc nghiêm trọng. Cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Việt Nam thực sự là một cuộc chiến tranh của nước Mỹ, 6 triệu lượt thanh niên Mỹ đã bị bắt sang chiến đấu ở Việt Nam; hàng vạn thanh niên Mỹ bị chết; hàng trăm lính Mỹ bị bắt làm tù binh. Nước Mỹ đã phải chi mấy trăm tỷ đô-la cho cuộc chiến tranh. Tổng thống Giôn-xơn đã phải chua chát thừa nhận trong hồi ký của ông ta: “Đây là một cuộc chiến tranh không có trận tuyến cố định... Đó là một cuộc chiến tranh chính trị, một cuộc chiến tranh kinh tế và một cuộc chiến tranh bằng súng đạn”. Tất cả diễn ra cùng một lúc, Giôn-xơn đã xóa bỏ chương trình vĩ đại của nước Mỹ để lao theo chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh. Nạn lạm phát tăng lên, hậu phương nước Mỹ không ổn định. Quân Mỹ tuy còn đông, nhưng ý chí xâm lược của nó đã bị lung lay. Vì vậy Giôn-xơn không còn con đường nào khác, ngày 31 tháng 3 năm 1968, ông ta đã phải tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nước Mỹ nhiệm kỳ tới, ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri.

Khi đưa quân viễn chinh vào miền Nam nước ta những nhà chiến lược quân sự Mỹ cho rằng quân đội của họ vào trực tiếp chiến đấu sẽ đảo ngược được tình thế. Họ dự tính muộn nhất là trong vài ba năm sẽ giải quyết xong cuộc chiến tranh và kéo quân về nước trong khúc ca khải hoàn. Thế nhưng, giấc mơ chưa đạt được, những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã phải chịu xuống thang chiến tranh ở Việt Nam, đúng trong thời điểm số quân của họ trên chiến trường đạt đến mức cao nhất. Họ cho rằng dù có đổ thêm quân và vũ khí vào chiến trường Việt Nam đến mức nào đi nữa cũng không thể cứu vãn được sự thất bại hoàn toàn. Do vậy những nhà chiến lược quân sự Mỹ đã phải tính đến việc rút dần sự dính líu trực tiếp khỏi cuộc chiến tranh này¹. Tổng thống Mỹ Ních-xơn bước vào Nhà Trắng đã chọn Việt Nam làm nơi thí nghiệm “học thuyết” mang tên ông ta và đề ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thực chất chiến lược này vẫn là kéo dài và mở rộng chiến tranh với chủ trương “thay đổi màu da xác chết. Dùng người Việt đánh người Việt bằng bom đạn và đô-la Mỹ”. Mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh là phản công vào nông thôn, phản công vào hậu phương trực tiếp của chiến tranh nhân dân ta tại chiến trường; đồng thời ra sức ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn vào chiến trường.

Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, những người chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn đã chọn Tây Nguyên làm nơi thí điểm. Họ mở nhiều cuộc hành quân giải tỏa, đồng thời tập trung cố gắng lớn nhất thực hiện các kế hoạch “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”. Quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn chà đi xát lại hết sức ác liệt, triệt hạ nhiều làng mạc, xúc tát nhân dân về các trại tập trung gây ra biết bao tội ác đối với nhân dân ta.

Đứng trước thủ đoạn tàn bạo trên, quân và dân Tây Nguyên bước vào năm 1969 gặp muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể khắc phục được, nhất là lương thực. Trong quyển sổ công tác số 16 của tôi còn ghi lại, toàn chiến trường vào thời điểm tháng 2 năm 1969 số gạo dự trữ chỉ còn khoảng 40 tấn. Nguy cơ thiếu đói là không thể tránh khỏi đối với cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên.

Cuối năm 1968, Bộ Tổng tư lệnh điều của Tây Nguyên vào Nam Bộ: Bộ tư lệnh và cơ quan Sư đoàn 1, trung đoàn 320, trung đoàn 33 và trung đoàn 174. Như vậy đến gần một nửa lực lượng của Tây Nguyên rời khỏi địa bàn. Việc điều động đó là xuất phát từ yêu cầu chung của toàn cục, nhưng nó đã làm xáo trộn lớn về tổ chức lực lượng và bố trí thế trận, giảm đáng kể sức chiến đấu, gây trở ngại lớn đến việc xây dựng cơ bản của chiến trường Tây Nguyên.

Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở Tây Nguyên được Mỹ bắt đầu tiến hành đầu năm 1969, họ chọn vùng rừng núi Chu Pa làm nơi thí điểm. Ngày 10 tháng 1 năm 1969, liên đoàn 2 biệt động quân và trung đoàn 42 ngụy được sự chi viện tối đa của máy bay và pháo binh Mỹ mở cuộc hành quân mang tên “Bình tây 48” nhằm bí mật thọc vào hậu phương của ta, nới rộng phòng tuyến phía tây thị xã Plây Cu đang bị ta uy hiếp tiến công.

Ngay từ khi mới đặt chân xuống vùng núi Chu Pa, các tiểu đoàn đầu tiên của liên đoàn 2 biệt động quân và trung đoàn 42 quân ngụy đã bị các chiến sĩ giao liên, vận tải giữ kho, lực lượng sản xuất chặn đánh liên tục làm rối loạn đội hình. Trung đoàn 24 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 kịp thời vận động tới, mở hàng loạt trận tập kích vào sở chỉ huy dã chiến trung đoàn 42 và các sở chỉ huy tiểu đoàn thuộc liên đoàn biệt động quân. Bị đánh tơi tả, những người chỉ huy quân đội Mỹ – ngụy buộc phải hủy bỏ cuộc hành quân “Bình tây 48”, rồi lại mở tiếp cuộc hành quân “Bình tây 49”, rồi “Bình tây 50”, nhưng vẫn không tránh khỏi thất bại.

Sau hàng loạt trận thí điểm chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở vùng núi Chu Pa thất bại, quân Mỹ không thể giữ mãi thái độ “trùm chăn” để mặc cho quân ngụy bị tiêu diệt, họ buộc phải tung lực lượng vào cuộc chiến đỡ đòn cho quân ngụy. Những người chỉ huy quân đội Mỹ đã sử dụng 5 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 4 Mỹ. Vòng ngoài gồm 3 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 đóng ở ba khu vực. Khu vực thứ nhất: Ngọc Tô Ba, điểm cao 467, Plây Gia Siêng; khu vực thứ hai: Chu Dơ Bang, Chu Mo Nú, Chu Mo Rinh; khu vực thứ ba: Chu Kê Pắc (Cây đa gió lộng), Chu Kô Pắc. Vòng trong gồm hai tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 2, cùng với các đơn vị pháo binh yểm trợ chiếm giữ Kleng, Chu Tăng Kra, Chu Tăng An, Chu Đô. Quân Mỹ rải ra từng đại đội, trung đội xen kẽ nhau đóng chốt trên các điểm cao. Đây là cuộc ra quân lớn cuối cùng của quân Mỹ ở Tây Nguyên. Trung đoàn 28, trung đoàn 66 của ta ra quân lần này giữa vô vàn khó khăn vẫn ung dung tự tin với khẩu hiệu: “Đánh cho sư 4 đảo điên, đánh cho quân ngụy ở Tây Nguyên tơi bời”.

Những ngày đầu chiến dịch, bộ đội ta lùng bám địch rất vất vả, cứ nổ súng là chúng bỏ chạy nên vẫn chưa diệt gọn được tiểu đoàn nào. Anh em ta cho rằng đánh ngụy còn khó hơn cả đánh Mỹ, không tin là ta có thể diệt gọn đơn vị địch. Trước tình hình trên các đơn vị đã tiến hành dân chủ quân sự tìm ra cách đánh thích hợp để đánh bại thủ đoạn mới của quân ngụy Sài Gòn. Anh em các đơn vị đều cho rằng đánh quân ngụy lúc này là không thể tổ chức trinh sát nắm địch rồi vạch phương án tác chiến, sau đó đưa bộ đội triển khai đội hình chiến đấu như trước. Nếu làm từng bước như vậy địch sẽ “di tản” mất. Cuối cùng cán bộ chiến sĩ trung đoàn 66 thống nhất phương án là trinh sát đi đầu, bộ phận chỉ huy các cấp từ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đi ngang trong đội hình đơn vị, hễ phát hiện được địch là tổ chức vây lại không cho chúng kịp “di tản”. Với hình thức này, ngày 21 tháng 5 năm 1969, tiểu đoàn 9 trung đoàn 66 do anh Đinh Xuân La tiểu đoàn trưởng chỉ huy khi đến khu vực Đắc Ra-đê-hay thì phát hiện được một tiểu đoàn biệt kích ngụy. Anh cho bộ đội nhanh chóng áp sát bao vây chặt không cho địch rút chạy rồi liên tục tổ chức những đợt công kích mãnh liệt vào các cụm quân lính biệt kích ngụy. Tiểu đoàn 9 liên tục quần nhau với lính biệt kích ngụy từ trưa ngày 21 đến quá trưa ngày 22 tháng 5 năm 1969, đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 2 có cố vấn Mỹ chỉ huy, loại khỏi vòng chiến đấu 327 tên. Trận đánh của tiểu đoàn 9 đã nêu kỷ lục lần đầu tiên một tiểu đoàn ta diệt gọn một tiểu đoàn ngụy trên chiến trường. Trong cuốn “Cẩm nang chiến thuật hành quân liên binh” của quân lực Việt Nam cộng hòa (quân ngụy Sài Gòn) xuất bản tháng 2 năm 1971, ở trang 7 họ thú nhận như sau: “Chiến thuật bám sát bao vây được cộng sản Bắc Việt triển khai và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1969 khi chúng đương đầu với các cuộc hành quân của ta (quân ngụy) tại chiến trường Cao nguyên trung phần”.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.