Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 19: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968

• 26/06/2026 11:20

Sau hai mùa khô đọ sức với quân viễn chinh Mỹ, lực lượng cách mạng của ta ở miền Nam ngày càng phát triển, kinh nghiệm chiến đấu được tích lũy phong phú, trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực được nâng cao, thế trận đã tỏa rộng và giăng kín khắp nơi, uy hiếp địch từ mọi phía.

Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết lịch sử: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Bộ Chính trị nhận định: “Do những thất bại có tính chất chiến lược của Mỹ ở miền Nam và do những thắng lợi to lớn của ta trong năm 1967, địch khó có khả năng mở cuộc phản công lần thứ ba. Xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là chúng sẽ càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn”. Về phía ta, Bộ Chính trị cho rằng “chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược, chiến thuật; lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường...” và kết luận: “Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn”.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 tháng 1 năm 1968 thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12 năm 1967 và hạ quyết tâm: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Trung ương Đảng khẳng định: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”.

Dự kiến của Bộ Chính trị về cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa có thể phát triển theo ba khả năng:

Khả năng thứ nhất là ta thắng lớn, địch phải chịu thua và kết thúc chiến tranh.

Khả năng thứ hai là ta thắng ở nhiều nơi, nhưng địch cũng cố được lực lượng và chiến đấu với ta.

Khả năng thứ ba là Mỹ sẽ tăng thêm nhiều lực lượng mở rộng chiến tranh ra cả miền Bắc, sang Lào, Cam-pu-chia.

Nhưng dù tình hình thế nào, ta cũng kiên quyết liên tiếp tấn công địch cho đến khi chúng bị thất bại.

Cuối tháng 11 năm 1967, ngay sau khi được phổ biến sơ bộ chủ trương của cấp trên, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở hội nghị liên tịch với các đồng chí bí thư tỉnh ủy Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc cùng bàn bạc để thống nhất kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên toàn bộ khu vực Tây Nguyên.

Cục diện và hình thái giữa ta và địch ở Tây Nguyên cuối năm 1967 đã diễn ra đúng như nhận định trên của Bộ Chính trị. Sau thất bại ở Đắc Tô, quân Mỹ buộc phải lui về tuyến phòng ngự cũ. Chúng phải hạn chế đến mức thấp nhất các cuộc hành quân “tìm diệt” mà lo đối phó với ta trong trạng thái phòng ngự bị động. Quân Mỹ thành lập các tuyến ngăn chặn tiến công kết hợp với phản kích gần. Chúng bắt đầu co về giữ các thị xã, quận lỵ, trục đường giao thông quan trọng và xung yếu, đẩy dần quân ngụy ra tuyến trước. Đầu năm 1968 lực lượng và hình thái bố trí của địch ở Tây Nguyên như sau: Ở Đắc Lắc quân Mỹ có khoảng 450 cố vấn và nhân viên kỹ thuật; quân ngụy có trung đoàn 45, trung đoàn 8 thiết giáp và một số tiểu đoàn bảo an. Ở Gia Lai, sư đoàn kỵ binh không vận số 1, ở An Khê, sư đoàn 4 và lữ dù 173 ở Plây Cu; quân ngụy có hai tiểu đoàn biệt động quân số 11 và 22, một trung đoàn thiết giáp và các tiểu đoàn bảo an và biên phòng. Ở Kon Tum, trên đường 18 có 1 lữ thuộc sư đoàn 4 Mỹ, trong thị xã có trung đoàn 42, một tiểu đoàn biệt động quân và một tiểu đoàn bảo an.

Hơn hai năm giáp mặt với quân Mỹ, cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên chúng tôi đã hiểu rõ, hiểu đúng đối phương của mình. Chúng tôi chẳng những không gờm sợ Mỹ mà còn ham đánh Mỹ và biết cách đánh thắng chúng. Phong trào thi đua giết giặc lập công, phấn đấu trở thành “Đơn vị anh dũng diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt Mỹ” dấy lên sôi nổi khắp nơi. Niềm tin yêu và sự động viên khích lệ mạnh mẽ của đồng bào cả nước dành cho Tây Nguyên sau chiến thắng Đắc Tô I càng làm cho cán bộ, chiến sĩ thêm phấn khởi tự hào và quyết tâm đánh thắng Mỹ. Đợt tổng kết chiến dịch Đắc Tô I và sinh hoạt chính trị cuối năm 1967 đã nâng cao thêm khí thế và niềm tin, chuẩn bị cho bộ đội bước vào nhiệm vụ mới.

Chấp hành chủ trương của trên về thực hiện đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1968, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên chúng tôi hạ quyết tâm động viên toàn bộ lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên nỗ lực vượt bậc, tiến công liên

tục, toàn diện và triệt để vào quân địch thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các chiến trường và sẵn sàng ứng phó một cách chủ động, mạnh mẽ nếu chiến tranh kéo dài.

Để thực hiện quyết tâm trên, Bộ tư lệnh Mặt trận đã tăng cường cho tỉnh đội Kon Tum 1 đại đội ĐKB, 1 đại đội công binh và 331 tân binh, nâng tổng số quân của tỉnh lên 1.753 người; tăng cường cho tỉnh đội Gia Lai 1 tiểu đoàn ĐKB và 195 tân binh Quân khu 5 bổ sung, đưa tổng số quân của tỉnh Gia Lai lên 2.606 người, du kích là 7.689 người; ở Đắc Lắc quân số là 1.777 người; du kích là 2.425 người.

Từ ngày 15 đến ngày 27 tháng 1 năm 1968 các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 mở một đợt hoạt động để thu hút quân Mỹ lên đường 18 Plây Cần bắc Kon Tum, giam chân chúng ở đó. Các nơi khác cố gắng kéo chủ lực địch ra ngoài thị xã tạo điều kiện thuận lợi cho ngày N; đồng thời thu hút địch lên Tây Nguyên, phối hợp với chiến trường đồng bằng. Mặt khác, ta đưa lực lượng tiến sát vào các thị xã và vùng phụ cận, uy hiếp đường giao thông, đánh hỏng bộ máy kìm kẹp của địch ở vùng ven, chuẩn bị bàn đạp cho cuộc Tổng tiến công.

Kết quả đợt hoạt động này ta đã đánh 36 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên địch (có 1.600 tên Mỹ), diệt gọn 7 đại đội, bắt sống 88 tên ngụy, phá hủy 361 xe quân sự, 17 khẩu pháo các loại, bắn rơi hàng chục máy bay. Đòn tiến công dồn dập trước cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) đã khẳng định chủ trương trên là đúng đắn và chính xác. Bộ đội nhanh chóng làm quen với chiến trường mới. Quân địch thêm căng thẳng, bối rối. Đó là sự chuẩn bị cần thiết cho một trận tập kích chiến lược sắp sửa diễn ra.

Lệnh Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt phát ra rất nhanh và hoàn toàn giữ được bí mật. Cả miền Nam, cả núi rừng Tây Nguyên đứng dậy không phân biệt già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thường... tất cả đều anh dũng xốc tới trong lời thơ hào hùng và xúc động của Bác Hồ:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.

Chưa có lần ra quân nào giục giã lòng người ra trận như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm ấy. Không một ai phân vân do dự trước sự hy sinh có thể xảy ra đối với bản thân mình trong cuộc chiến lịch sử này. Tôi còn nhớ, anh em thương binh, bệnh binh đang điều trị cũng nằng nặc xin được về đơn vị đi chiến đấu. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ sản xuất, trông coi hậu cứ cũng náo nức xin ra trận. Đơn vị nào cũng xuất kích với số quân cao nhất.

0 giờ 30 phút đêm 30 rạng mùng một Tết Nguyên đán năm 1968, tiểu đoàn 2 trung đoàn 174 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nổ tiếng súng đầu tiên đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân trên chiến trường toàn miền Nam.

Trên hướng Đắc Lắc, ta tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột chiếm đài phát thanh, nhà lao, sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy, khu pháo binh, khu thiết giáp, sân bay thị xã, tòa hành chính, ty cảnh sát, khu cố vấn Mỹ...

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, Tỉnh ủy Đắc Lắc huy động 9.000 quần chúng tiến vào thị xã đấu tranh với địch. Đây cũng là lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta đã huy động được một lực lượng quần chúng đông đảo đấu tranh trực diện với quân thù. Bà con cô bác vây chặt căn cứ trung đoàn 45 ngụy, kêu gọi binh lính địch quay súng trở về với nhân dân.

Trước làn sóng tiến công vũ bão của đồng bào các dân tộc tỉnh Đắc Lắc, chỉ huy quân đội Mỹ đã huy động máy bay, xe tăng giội bom, bắn rốc-két và súng trọng liên vào đoàn biểu tình. Ở cánh đông, nhân dân huyện 9 (căn cứ kháng chiến) đang hùng dũng tiến vào thì má Hai, người cầm cờ trúng đạn ngã xuống. Chị Mười nhận lá cờ từ tay má Hai trao cho vượt lên dẫn đầu chỉ huy đoàn người thì lại bị trúng đạn hy sinh. Má Hai tuy bị thương nhiều chỗ, đã yếu nhưng vẫn vượt lên giương cao lá cờ cùng bà con tiếp tục tiến. Ở cánh nam thị xã có má Thanh, mặc dầu bị quân Mỹ bắn chết con vẫn tiếp tục dẫn đầu đoàn biểu tình, dùng loa kêu gọi binh lính địch. Cháu bé Hồ Tam cầm cờ đi đầu, bị địch bắn trọng thương đã trao cờ đỏ sao vàng cho chị ruột của mình là Hồ Lan và kêu gọi “các anh chị hãy giữ lấy cờ”.

Ở Gia Lai, 0 giờ 55 phút ngày 31 tháng 1, tiểu đoàn H15 đánh vào khu vực chợ Thuần Phong, Trà Bá 2 tiến về căn cứ trung đoàn thiết giáp ngụy; các đại đội 60, 70, 80 tiểu đoàn 408 đánh vào sân bay A-rê-a, sân bay Cù Hanh, cơ quan quân đoàn 2 ngụy, khu biệt động quân ở Biển Hồ phá hủy 45 máy bay và 35 xe các loại, phá hủy khu ra-đa. Đại đội đặc công 21 của Mặt trận đánh vào tiểu khu Plây Cu, khu cảnh sát vùng 2, tòa hành chính. Sau khi đánh chiếm các mục tiêu chính, quân ta nhanh chóng triển khai lực lượng tiêu diệt các ổ đề kháng của địch ở ngã ba Diệp Kính.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, Tỉnh ủy Gia Lai huy động hơn 10 nghìn quần chúng xuống đường đấu tranh chính trị. Chính quyền một số ấp, xã ở các huyện 4, 5, 6 được thành lập. Hơn 14 nghìn đồng bào đã trở về làng cũ làm ăn, 11 làng xung quanh thị xã Plây Cu được giải phóng.

Trên hướng Kon Tum, từ cuối năm 1967 Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã thống nhất với Tỉnh ủy Kon Tum cử một bộ chỉ huy chung do anh Vương Tuấn Kiệt (Phú), tham mưu phó mặt trận làm tư lệnh; anh Phùng Bá Thường, trung đoàn trưởng trung đoàn 24 làm phó tư lệnh; anh Nguyễn Văn Tiềm, bí thư tỉnh ủy làm chính ủy; anh Nguyễn Phùng, phó bí thư tỉnh ủy làm phó chính ủy; anh Lê Tấn Thuận, chính trị viên tỉnh đội Kon Tum làm phó tư lệnh cánh quân phía đông.

Đúng 1 giờ 15, tiểu đoàn đặc công 406 của tỉnh đánh chiếm tòa hành chính, ty cảnh sát và tiểu khu Kon Tum. Tiểu đoàn bộ binh 304 của tỉnh đánh chiếm khu vực sân bay Kon Tum. Lực lượng vũ trang thị xã đánh chiếm cư xá sĩ quan địch. Sau 30 phút chiến đấu, các lực lượng trên đã đánh chiếm hai phần ba thị xã, trong đó có những khu vực quan trọng là tòa hành chính ngụy quyền, ty cảnh sát ngụy, tiểu khu Kon Tum và sân bay Kon Tum.

Trong khi đó trung đoàn 24 triển khai đội hình chậm, khi nổ súng bị lộ, chỉ một bộ phận nhỏ lực lượng vào đánh chiếm được một góc biệt khu 24. Ngay trong đêm những người chỉ huy quân đội Mỹ đã cho máy bay ném bom bừa bãi xuống thị xã Kon Tum. Các chiến sĩ tiểu đoàn 304, 406 và trung đoàn 24 dựa vào từng căn nhà góc phố anh dũng đánh trả quyết liệt. A Xâu, chiến sĩ tiểu đoàn đặc công 406, một mình trụ bám tại khu chợ thị xã chiến đấu oanh liệt hai ngày ba đêm liền, bị thương nhiều lần, anh tự băng bó, sử dụng nhiều loại súng đánh lui 16 đợt phản kích của địch. A Thang mới 16 tuổi, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, diệt được nhiều tên địch và mở được vòng vây trở về với đồng đội. Trần Văn Hai, chiến sĩ liên lạc hoạt động trong cơ sở nội thị, khi đưa đón quân ta vào vị trí tập kích, không may bị địch bắt, chúng tra tấn dã man, em vẫn kiên trung không khai báo một lời. Lợi dụng lúc địch sơ hở, em cướp lựu đạn diệt địch ngay tại phòng thẩm vấn của chúng và anh dũng hy sinh.

Bị ta tiến công bất ngờ và dữ dội, quân Mỹ ở Kon Tum vô cùng hoang mang, lúng túng. Chúng hành động dè dặt, không dám tung lực lượng lớn ra phản kích trên hướng đường 18 như ta dự kiến. Trong lúc đó, các hoạt động của sư đoàn 1 trên hướng này lại chưa đủ mạnh để có thể kéo địch ra tiêu diệt. Vì vậy Sư đoàn 1 không có thời cơ tiêu diệt lớn quân Mỹ. Khi được lệnh chuyển sang đánh vào Đắc Tô, do chuẩn bị chưa đầy đủ nên sư đoàn chuyển không kịp. Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, khối chủ lực cơ động Mặt trận Tây Nguyên chưa phát huy được quả đấm mạnh trên chiến trường, kết quả tác chiến chưa tương xứng với lực lượng.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1968 trên chiến trường Tây Nguyên đã góp phần vào thắng lợi chung của cả nước, tạo ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh giải phóng, đẩy địch lùi vào thế phòng ngự chiến lược. Tuy trên chiến trường chưa có một sư đoàn nào của quân Mỹ bị tiêu diệt gọn, nhưng không một đơn vị nào là không bị đánh thiệt hại nặng nề, không một căn cứ đóng quân nào của quân Mỹ không bị tiến công. Những thực tế đắng cay trên chiến trường đã làm cho nước Mỹ chán nản, chia rẽ sâu sắc nghiêm trọng. Cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Việt Nam thực sự là một cuộc chiến tranh của nước Mỹ, 6 triệu lượt thanh niên Mỹ đã bị bắt sang chiến đấu ở Việt Nam; hàng vạn thanh niên Mỹ bị chết; hàng trăm lính Mỹ bị bắt làm tù binh. Nước Mỹ đã phải chi mấy trăm tỷ đô-la cho cuộc chiến tranh. Tổng thống Giôn-xơn đã phải chua chát thừa nhận trong hồi ký của ông ta: “Đây là một cuộc chiến tranh không có trận tuyến cố định... Đó là một cuộc chiến tranh chính trị, một cuộc chiến tranh kinh tế và một cuộc chiến tranh bằng súng đạn”. Tất cả diễn ra cùng một lúc, Giôn-xơn đã xóa bỏ chương trình vĩ đại của nước Mỹ để lao theo chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh. Nạn lạm phát tăng lên, hậu phương nước Mỹ không ổn định. Quân Mỹ tuy còn đông, nhưng ý chí xâm lược của nó đã bị lung lay. Vì vậy Giôn-xơn không còn con đường nào khác, ngày 31 tháng 3 năm 1968, ông ta đã phải tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nước Mỹ nhiệm kỳ tới, ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri.

Khi đưa quân viễn chinh vào miền Nam nước ta những nhà chiến lược quân sự Mỹ cho rằng quân đội của họ vào trực tiếp chiến đấu sẽ đảo ngược được tình thế. Họ dự tính muộn nhất là trong vài ba năm sẽ giải quyết xong cuộc chiến tranh và kéo quân về nước trong khúc ca khải hoàn. Thế nhưng, giấc mơ chưa đạt được, những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã phải chịu xuống thang chiến tranh ở Việt Nam, đúng trong thời điểm số quân của họ trên chiến trường đạt đến mức cao nhất. Họ cho rằng dù có đổ thêm quân và vũ khí vào chiến trường Việt Nam đến mức nào đi nữa cũng không thể cứu vãn được sự thất bại hoàn toàn. Do vậy những nhà chiến lược quân sự Mỹ đã phải tính đến việc rút dần sự dính líu trực tiếp khỏi cuộc chiến tranh này¹. Tổng thống Mỹ Ních-xơn bước vào Nhà Trắng đã chọn Việt Nam làm nơi thí nghiệm “học thuyết” mang tên ông ta và đề ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thực chất chiến lược này vẫn là kéo dài và mở rộng chiến tranh với chủ trương “thay đổi màu da xác chết. Dùng người Việt đánh người Việt bằng bom đạn và đô-la Mỹ”. Mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh là phản công vào nông thôn, phản công vào hậu phương trực tiếp của chiến tranh nhân dân ta tại chiến trường; đồng thời ra sức ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn vào chiến trường.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.