Trận đánh
Kỳ 17: Cách đánh giặc phong phú trên chiến trường Tây Nguyên
Nói về chiến trường Tây Nguyên, nơi sáng tạo nhiều cách đánh với những thành tích chiến đấu mới không thể không nói đến trận đánh của tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 ngày 12 tháng 7 năm 1967 ở nam bản Đức Vinh cũ (nay thuộc xã Ia Pnon, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai).
Ngày 12 tháng 7, hai đại đội thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ bí mật hành quân từ điểm cao 300 về hướng bản Đức Vinh qua điểm cao 267, đến Đồi Bằng vượt qua suối Ia Pnon rồi dừng lại ở điểm cao 190.
Lúc 4 giờ 30 phút ngày 12 tháng 7, tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 do anh Võ Quang Tịnh, tiểu đoàn trưởng và anh Võ Hùng Cường, chính trị viên chỉ huy được lệnh xuất phát. Anh Võ Quang Tịnh dẫn tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn vượt lên trước nắm địch, anh Võ Hùng Cường chỉ huy tiểu đoàn hành quân.
Đến 9 giờ 30 phút trung đội 1 đại đội 3 tiểu đoàn 7 gặp địch ở sườn đông điểm cao 190 đã kịp thời nổ súng diệt một số, buộc chúng phải lùi lại. Nhưng ngay sau đó 2 đại đội Mỹ hùng hổ xông lên đánh vào trận địa đại đội 3. Khi đại đội 1 cách địch 100 mét thì bị chúng dùng đại liên bắn xối xả vào đội hình. Đại đội phó Trương Văn Hóa trực tiếp nắm khẩu cối 60 ly bắn cấp tập vào đội hình quân địch để yểm trợ bộ binh tiếp cận. Bị đánh bất ngờ, những tên chỉ huy và tên mang điện đài bị tiêu diệt. Quân Mỹ hoàn toàn mất liên lạc với chỉ huy ở căn cứ nên chúng không thể dùng pháo binh và không quân chi viện cho lính lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ. Các chiến sĩ đại đội 1 và sau đó là đại đội 3 xông lên chia cắt địch ra từng mảng để diệt. Cuộc chiến đấu của tiểu đoàn 7 kéo dài 11 giờ 30 phút thì ta làm chủ trận địa.
Tôi được Nguyễn Khắc Viện, đại đội trưởng đại đội 1 kể lại: Sau khi làm chủ trận đánh, bộ đội tảo trừ trận địa, thu vũ khí, bản đồ, địa bàn và tài liệu địch. Đại đội phó Trương Văn Hóa thấy một tên Mỹ nằm nghiêng, áo quần bê bết máu, nhưng chiếc lá khoọc che mặt nó động đậy. Hóa tiến lại lật tên Mỹ, bất ngờ bị nó giằng được khẩu AK rồi chĩa về phía anh, bóp cò. Nhưng khẩu súng đã khóa chốt an toàn nên Hóa vô sự. Bằng một động tác rất nhanh và mạnh, Trương Văn Hóa dùng đòn hiểm đánh mạnh vào hạ bộ và quật ngã tên Mỹ. Lúc này Hóa mới gọi to: “Anh Viện ơi! Đến bắt tù binh”. Viện và một số chiến sĩ nữa chạy lại hỗ trợ Hóa bắt tên Mỹ. Từ kinh nghiệm của Hóa các chiến sĩ đại đội 1 và cả tiểu đoàn 7 lần lượt kiểm tra toàn bộ xác lính Mỹ trên trận địa, bắt thêm 5 tên Mỹ “giả vờ” chết làm tù binh.
Đây là lần đầu tiên 1 tiểu đoàn tạ diệt gọn 2 đại đội Mỹ, bắt nhiều tù binh Mỹ trong một trận ở chiến trường. Để đánh một trận đạt hiệu suất cao, trước khi bước vào trận đánh tiểu đoàn 7 đã tập trung giải quyết vấn đề xây dựng quyết tâm chiến đấu, làm cho mọi người tin tưởng vào cách đánh. Đảng ủy và chỉ huy tiểu đoàn tiến hành xây dựng quyết tâm chiến đấu tới từng tổ đảng, từng chiến sĩ. Cán bộ tự phê bình trước chiến sĩ, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu nhau và tin yêu nhau hơn. Các chi bộ đã quán triệt nhiệm vụ lãnh đạo phân đội và tập trung bàn bạc xung quanh “ba quyết đánh” (đánh thọc sâu liên tục; đánh lớn và đánh thắng trận đầu; đánh diệt gọn và bắt tù binh). Mỗi đảng viện đều đăng ký “sáu dẫn đầu” (dẫn đầu giữ gìn bí mật; dẫn đầu đánh thọc sâu, đánh gần, đánh giáp lá cà; dẫn đầu đánh xe cơ giới, bắn máy bay Mỹ; dẫn đầu bắt tù binh; dẫn đầu thu nhiều vũ khí; dẫn đầu lấy hết thương binh tử sĩ). Các chiến sĩ hầu hết đều đăng ký nhận giữ hỏa lực, đăng ký diệt Mỹ và bắt tù binh Mỹ.
Kinh nghiệm rút ra từ trận đánh này khẳng định thêm việc xây dựng quyết tâm và lòng tin cho bộ đội không chỉ làm trong một lúc mà phải tiến hành thường xuyên, liên tục và kiên trì với nhiều hình thức phong phú gắn liền với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi đơn vị.
Sau trận này, quân Mỹ buộc phải rút bỏ vùng tây Sa Thầy, Sùng Thiện và Sùng Lễ. Thực chất chúng đã thất bại nặng nề buộc phải rút chạy chiến dịch.
Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương các tỉnh Tây Nguyên cũng tích cực hoạt động. Ở Gia Lai đêm ngày 30 tháng 5, tiểu đoàn 15 bộ đội tỉnh tập kích đồn Mo. Ở phía đông du kích các xã A3 huyện 7 (nay là xã Chơ–kơ–rei, huyện Kon Chro), xã Bắc, huyện 2 (nay thuộc huyện Kbang) bắc Hà Lòng, Kon Dơng (huyện 3) liên tục đánh xe, phá ống dẫn dầu trên đường 19; đại đội công binh 17 của tỉnh và đại đội công binh 18 của Quân khu 5 tăng cường tập kích quân địch chốt bảo vệ cầu Ayum diệt hàng chục tên. Ở phía tây bộ đội địa phương huyện 4 (nay là Ia Sao), huyện 5 (nay là Chư Pông) diệt gọn 1 đại đội Mỹ khi chúng nống ra càn quét ở Đức Vinh. Tiêu biểu là Kpa Klơng, quê ở xã Ia pa, huyện 5, tỉnh Gia Lai, chiến sĩ trinh sát bộ đội địa phương huyện 5 chiến đấu dũng cảm, bắn súng rất giỏi, nhiều lần bắn “xuyên táo” quân địch. Có lần chỉ với 2 viên đạn anh diệt được 4 tên, lần khác 3 viên đạn diệt được 5 tên địch làm cho Mỹ – ngụy ở vùng này vô cùng khiếp sợ. Tỉnh Gia Lai còn có phong trào dân quân đánh xe cơ giới phát triển rộng khắp. Ở huyện 4 có 9 xã trên 16 xã trong huyện đã diệt 23 xe M113. Nữ du kích Rmah Sao và Ralan Mek người dân tộc Gia Rai xã B9 diệt 3 xe M113, cùng một lúc hai chị đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”.
Thất bại nặng nề trong mùa khô 1965–1966 và liên tiếp bị thua đau ở cả hai miền nước ta trong mùa mưa năm 1966, những người chỉ huy quân đội Mỹ ngoan cố và chủ quan muốn dùng sức mạnh quân sự để giải quyết chiến trường. Vì vậy bước vào mùa khô 1966–1967, sau khi tăng thêm quân, đẩy mạnh đánh phá miền Bắc, chúng tiếp tục mở cuộc phản công chiến lược mới lớn hơn. Mục tiêu chiến lược của cuộc phản công này về cơ bản vẫn giống như những mục tiêu của cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, nhưng phương thức, thủ đoạn tiến hành và quy mô sử dụng lực lượng có những điểm mới. Lần này, Mỹ tham vọng sẽ giành thắng lợi quan trọng “tìm diệt” và “bình định” trong một thời gian ngắn.
Trong cuộc phản công lần thứ hai này, địch đã mở 895 cuộc hành quân lớn nhỏ, tập trung có trọng điểm trên một hướng là miền Đông Nam Bộ với ba trận then chốt.
Cuộc hành quân Át–tơn–bo–rơ đánh vào khu Dương Minh Châu từ đầu tháng 11 năm 1966 đến ngày 24 tháng 11 năm 1966 với quy mô 3 lữ đoàn.
Cuộc hành quân Xê–đa Phôn đánh vào khu tam giác sắt Trảng Bàng – Bến Súc – Củ Chi từ ngày 8 tháng 1 đến ngày 26 tháng 1 năm 1967 với lực lượng 3 lữ đoàn Mỹ, 3 chiến đoàn ngụy.
Cuộc hành quân Gian–xơn Xi–ty, cuộc hành quân lớn nhất trên một hướng trong toàn cuộc chiến tranh đánh vào chiến khu Dương Minh Châu từ ngày 22 tháng 2 đến 15 tháng 4 năm 1967, với lực lượng 7 lữ đoàn Mỹ và 2 chiến đoàn ngụy nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, diệt chủ lực, phá kho tàng dự trữ, lấn chiếm chia cắt và triệt phá căn cứ, phong tỏa biên giới Việt Nam – Cam–pu–chia. Đây là lần dốc sức lớn nhất của quân đội Mỹ và cũng là thất bại nặng nề nhất của quân đội Mỹ trong cuộc phản công chiến lược này.
Thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai là thất bại toàn diện cả về quân sự và chính trị. Sự thất bại không chỉ biểu hiện trong những thất bại to lớn của những người chỉ huy quân đội Mỹ trên chiến trường mà điều quan trọng là ảnh hưởng của nó đến vấn đề chính trị và quân sự trong nước Mỹ, là sự phá sản hoàn toàn của các mục tiêu “tìm diệt” và “bình định” mà họ đề ra cho cuộc phản công chiến lược lớn nhất này..
Về phía ta, đây là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng. Nó thể hiện ưu thế chính trị và tinh thần của ta vững vàng hơn, quyền chủ động và thế tiến công ấy đã đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của trên một triệu quân Mỹ – ngụy. Nó biểu hiện quyết tâm cách mạng sắt đá và khả năng to lớn của quân và dân hai miền Nam – Bắc quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, là kết quả của đường lối chính trị quân sự đúng đắn, khoa học của Đảng ta. Nó đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của quân và dân ta, mở ra khả năng mới hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây, trong đó chứa đựng những nhân tố mới, khả năng mới, tiền đề mới để giành thắng lợi to lớn gấp đôi.
Ngày 25 tháng 7 năm 1967, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp dưới sự chủ trì của anh Chu Huy Mân. Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao cho chiến trường từ sau chiến dịch Sa Thầy và đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong Đông Xuân 1967–1968. Đảng ủy Mặt trận quyết định mở chiến dịch Đắc Tô nhằm: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, bức địch phải điều lực lượng cơ động lên Tây Nguyên càng nhiều càng tốt; tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân ngụy, phối hợp chặt chẽ với chiến trường toàn Miền; nhanh chóng huấn luyện và rèn luyện trong tác chiến để nâng cao trình độ đánh tập trung của bộ đội chủ lực, tiêu diệt gọn đơn vị tương đối lớn và lớn của địch. Rèn luyện và gấp rút nâng cao trình độ tác chiến cho bộ đội địa phương. Đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển.
Kết luận hội nghị, anh Chu Huy Mân cho rằng nếu thực hiện tốt mục tiêu trên ta sẽ làm cho quân Mỹ mất dần sức tấn công phải chuyển vào thế phòng ngự trên chiến trường Tây Nguyên, làm cho quân ngụy không còn sức phòng ngự ở một số thị trấn và trên các trục đường giao thông, không tiến hành được việc bình định, gom dân; sẽ tạo ra khả năng chuyển biến quan trọng về cục diện mới, về địa bàn mới ở Tây Nguyên, góp phần tích cực tạo ra một số chuyển biến lớn trong cục diện chính trị và quân sự của toàn Miền.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.