Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 16: Những trận chiến đầu của Trung đoàn Pháo binh 40

• 26/06/2026 11:15

Thắng lợi của chiến dịch Sa Thầy còn là thắng lợi của việc tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trước, trong và sau chiến dịch; trong đó đã làm tốt công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho từng người, từng tổ, từng đơn vị trên cơ sở phát huy chính trị dân chủ. Qua sinh hoạt chính trị dân chủ anh em đã kiên quyết đấu tranh phê phán các hiện tượng bi quan dao động, giảm sút ý chí, những hiện tượng quan liêu, quân phiệt, hống hách, coi thường quần chúng... Nhờ thực hiện tốt chính trị dân chủ mà mối quan hệ cán bộ và chiến sĩ phát triển ngày càng tốt đẹp, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân được tăng cường, tư tưởng và hành động được thống nhất; đồng thời nhờ quân sự dân chủ mà phát huy được trí tuệ của tập thể, động viên được mọi tài năng của quần chúng, mọi người đều được tham gia giải quyết các tình huống dự kiến có thể xảy ra, tìm ra được nhiều cách đánh tốt nhất, hiệu quả nhất và đã rút được những kinh nghiệm thiết thực bồi dưỡng và nâng cao được trình độ tổ chức chỉ huy, chiến thuật, kỹ thuật của cán bộ, chiến sĩ.

Thực tiễn chiến trường đã chứng minh rằng: bộ đội ta từ bỡ ngỡ lần đầu khi đánh Mỹ ở Ia Đrăng đến bây giờ 1 đại đội ta đã tiêu diệt gọn 1 đại đội Mỹ, 1 tiểu đoàn ta trong vài ngày có thể tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn ngụy với nhiều hình thức chiến thuật.

Những kết quả và thành công này đã giúp cho chúng tôi có kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác Đảng, công tác chính trị những chiến dịch sau đó tốt hơn.

Đầu năm 1967, Bộ tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên tiểu đoàn 33 hỏa tiễn ĐKZB và trung đoàn 174. Tiểu đoàn 33 do anh Hoàng Liên làm tiểu đoàn trưởng; Nguyễn Anh Cường, chính trị viên; Nguyễn Viết Long, tiểu đoàn phó và Vũ Trọng Lượng, chính trị viên phó. Đây là đơn vị hỏa lực mạnh đầu tiên của chiến trường Tây Nguyên. Trung đoàn 174 do anh Đàm Văn Ngụy người dân tộc Tày, quê ở xã Minh Khai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng chỉ huy. Anh là một cán bộ chiến đấu rất dũng cảm, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Pháp. Ban chỉ huy trung đoàn còn có các anh Hoàng Thanh Trà, chính ủy; anh Lý Long Quân, trung đoàn phó; anh Hoàng Minh Khai, phó chính ủy; anh Mai Sơn, chủ nhiệm chính trị; anh Hoàng Cao Hỷ, tham mưu trưởng và anh Phạm Ngọc Túy, chủ nhiệm hậu cần.

Trung đoàn 174 vào đến chiến trường với quân số rất cao, 2.883 người, đảng viên 778, đoàn viên 1.852 và 253 thanh niên. 72 trên 72 trung đội có tổ đảng, 180 trên 197 tiểu đội có đảng viên. Cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, hăng hái, phấn khởi. Trên đường hành quân nhiều anh em đau ốm cũng cố gắng đi theo đơn vị. Tinh thần, ý chí chiến đấu tốt, tuy mấy lần bị máy bay Mỹ oanh tạc nhưng anh em vẫn không nao núng. Cán bộ gương mẫu mang vác đỡ chiến sĩ. Suốt chặng đường hành quân chỉ có hai cán bộ trung đội tỏ ra “có vấn đề”.

Đầu tháng 2 năm 1967, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập trung đoàn pháo binh 40. Sở dĩ trung đoàn này mang phiên hiệu 40 – tên của huyện 40 tỉnh Kon Tum (nay là huyện Đắc Glei) là để luôn nhớ tới nơi dừng chân của tiểu đoàn pháo binh 200 – đơn vị pháo binh đầu tiên vào chiến trường Tây Nguyên. Biên chế của trung đoàn 40 gồm có các tiểu đoàn 30, 31, 32 và 34, cùng ba cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần) và 2 đại đội (trinh sát, thông tin). Trang bị gồm các loại cối 120 ly, 82 ly, ĐKZ75 ly, súng 12,7 ly. Chỉ huy trung đoàn gồm có anh Nguyễn Đức Giá, trung đoàn trưởng, anh Sơn Hùng, chính ủy; anh Nguyễn Xô và anh Nguyễn Thành Lai, trung đoàn phó.

Thời gian này, sư đoàn 4 Mỹ bị ta liên tục tiến công gây nhiều tổn thất, buộc những người chỉ huy quân đội Mỹ phải tung lữ đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận số 1, nhiều đại đội biệt kích, pháo binh vào khu chiến từ Sùng Lễ, Sùng Thiện đến Đức Cơ, Lệ Thanh. Khu vực này nằm sâu trong hậu cứ của địch nên lữ đoàn dù số 2 và các lực lượng khác ở đây rất chủ quan. Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ trương sử dụng trung đoàn 40 dùng hỏa lực đánh vào căn cứ hành quân của địch ở Sùng Thiện. Trung đoàn 40 chỉ đạo cho tiểu đoàn 31 bí mật soi đường đưa cối 82 ly và ĐKZ 75 ly vào nơi bắn hiệu quả nhất. Đúng 22 giờ ngày 3 tháng 3 năm 1967, Mặt trận ra lệnh nổ súng. Tiểu đoàn 31 dùng cối 82 ly và ĐKZ 75 ly bắn chính xác vào sở chỉ huy lữ đoàn dù số 2, khu sân bay trực thăng dã chiến, trận địa pháo gây cho địch tổn thất lớn; phá hủy 8 khẩu pháo 105 ly, 7 máy bay lên thẳng, 30 xe quân sự các loại, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên Mỹ – ngụy.

Trận pháo kích căn cứ Sùng Thiện là trận đánh đạt hiệu suất cao đầu tiên của trung đoàn 40 sau ngày thành lập. Bài học của chiến thắng này là công tác giáo dục xây dựng quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, là việc phát huy trí tuệ tập thể thông qua dân chủ về quân sự, tự do thảo luận, hiến kế khắc phục khó khăn để đưa pháo luôn sâu sát căn cứ địch mà vẫn giữ được yếu tố bí mật bất ngờ đến khi nổ súng. Ở đây còn có vai trò của cán bộ lãnh đạo chỉ huy từ trung đoàn đến tiểu đoàn, đại đội sâu sát giúp đỡ cấp dưới, trực tiếp có mặt ở những nơi khó khăn, phức tạp nhất để kịp thời cùng cấp dưới và chiến sĩ giải quyết khắc phục.

Nói về chiến trường Tây Nguyên, nơi sáng tạo nhiều cách đánh với những thành tích chiến đấu mới không thể không nói đến trận đánh của tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 ngày 12 tháng 7 năm 1967 ở nam bản Đức Vinh cũ (nay thuộc xã Ia Pnon, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai).

Ngày 12 tháng 7, hai đại đội thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ bí mật hành quân từ điểm cao 300 về hướng bản Đức Vinh qua điểm cao 267, đến Đồi Bằng vượt qua suối Ia Pnon rồi dừng lại ở điểm cao 190.

Lúc 4 giờ 30 phút ngày 12 tháng 7, tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 do anh Võ Quang Tịnh, tiểu đoàn trưởng và anh Võ Hùng Cường, chính trị viên chỉ huy được lệnh xuất phát. Anh Võ Quang Tịnh dẫn tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn vượt lên trước nắm địch, anh Võ Hùng Cường chỉ huy tiểu đoàn hành quân.

Đến 9 giờ 30 phút trung đội 1 đại đội 3 tiểu đoàn 7 gặp địch ở sườn đông điểm cao 190 đã kịp thời nổ súng diệt một số, buộc chúng phải lùi lại. Nhưng ngay sau đó 2 đại đội Mỹ hùng hổ xông lên đánh vào trận địa đại đội 3. Khi đại đội 1 cách địch 100 mét thì bị chúng dùng đại liên bắn xối xả vào đội hình. Đại đội phó Trương Văn Hóa trực tiếp nắm khẩu cối 60 ly bắn cấp tập vào đội hình quân địch để yểm trợ bộ binh tiếp cận. Bị đánh bất ngờ, những tên chỉ huy và tên mang điện đài bị tiêu diệt. Quân Mỹ hoàn toàn mất liên lạc với chỉ huy ở căn cứ nên chúng không thể dùng pháo binh và không quân chi viện cho lính lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ. Các chiến sĩ đại đội 1 và sau đó là đại đội 3 xông lên chia cắt địch ra từng mảng để diệt. Cuộc chiến đấu của tiểu đoàn 7 kéo dài 11 giờ 30 phút thì ta làm chủ trận địa.

Tôi được Nguyễn Khắc Viện, đại đội trưởng đại đội 1 kể lại: Sau khi làm chủ trận đánh, bộ đội tảo trừ trận địa, thu vũ khí, bản đồ, địa bàn và tài liệu địch. Đại đội phó Trương Văn Hóa thấy một tên Mỹ nằm nghiêng, áo quần bê bết máu, nhưng chiếc lá khoọc che mặt nó động đậy. Hóa tiến lại lật tên Mỹ, bất ngờ bị nó giằng được khẩu AK rồi chĩa về phía anh, bóp cò. Nhưng khẩu súng đã khóa chốt an toàn nên Hóa vô sự. Bằng một động tác rất nhanh và mạnh, Trương Văn Hóa dùng đòn hiểm đánh mạnh vào hạ bộ và quật ngã tên Mỹ. Lúc này Hóa mới gọi to: “Anh Viện ơi! Đến bắt tù binh”. Viện và một số chiến sĩ nữa chạy lại hỗ trợ Hóa bắt tên Mỹ. Từ kinh nghiệm của Hóa các chiến sĩ đại đội 1 và cả tiểu đoàn 7 lần lượt kiểm tra toàn bộ xác lính Mỹ trên trận địa, bắt thêm 5 tên Mỹ “giả vờ” chết làm tù binh.

Đây là lần đầu tiên 1 tiểu đoàn tạ diệt gọn 2 đại đội Mỹ, bắt nhiều tù binh Mỹ trong một trận ở chiến trường. Để đánh một trận đạt hiệu suất cao, trước khi bước vào trận đánh tiểu đoàn 7 đã tập trung giải quyết vấn đề xây dựng quyết tâm chiến đấu, làm cho mọi người tin tưởng vào cách đánh. Đảng ủy và chỉ huy tiểu đoàn tiến hành xây dựng quyết tâm chiến đấu tới từng tổ đảng, từng chiến sĩ. Cán bộ tự phê bình trước chiến sĩ, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu nhau và tin yêu nhau hơn. Các chi bộ đã quán triệt nhiệm vụ lãnh đạo phân đội và tập trung bàn bạc xung quanh “ba quyết đánh” (đánh thọc sâu liên tục; đánh lớn và đánh thắng trận đầu; đánh diệt gọn và bắt tù binh). Mỗi đảng viện đều đăng ký “sáu dẫn đầu” (dẫn đầu giữ gìn bí mật; dẫn đầu đánh thọc sâu, đánh gần, đánh giáp lá cà; dẫn đầu đánh xe cơ giới, bắn máy bay Mỹ; dẫn đầu bắt tù binh; dẫn đầu thu nhiều vũ khí; dẫn đầu lấy hết thương binh tử sĩ). Các chiến sĩ hầu hết đều đăng ký nhận giữ hỏa lực, đăng ký diệt Mỹ và bắt tù binh Mỹ.

Kinh nghiệm rút ra từ trận đánh này khẳng định thêm việc xây dựng quyết tâm và lòng tin cho bộ đội không chỉ làm trong một lúc mà phải tiến hành thường xuyên, liên tục và kiên trì với nhiều hình thức phong phú gắn liền với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi đơn vị.

Sau trận này, quân Mỹ buộc phải rút bỏ vùng tây Sa Thầy, Sùng Thiện và Sùng Lễ. Thực chất chúng đã thất bại nặng nề buộc phải rút chạy chiến dịch.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.