Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 14: Niềm lạc quan chiến sĩ

• 26/06/2026 11:07

Những câu chuyện về sắn trong bộ đội Tây Nguyên lúc ấy thật nhiều. Nay hơn 20 năm đã trôi qua, những người lính già Tây Nguyên năm nào vẫn còn nhớ nhiều chuyện.

Chuyện kể rằng: Có lần một đơn vị bộ đội chủ lực ta cơ động về phía nam chiến đấu trong những ngày thiếu gạo. Đến khu vực Cầu Lầy toàn đội hình đã phải dừng lại để lấy sắn ăn thay cơm. Mỗi chiến sĩ được phát tiêu chuẩn 10 – 20 chiếc bánh sắn gói bằng lá dong, lá chuối rừng. Chưa hết, mỗi người còn chất đầy nóc ba lô những bó lá sắn non làm thức ăn dọc đường. Đơn vị đã hành quân bộ ròng rã một tháng trời vất vả như vậy, nhưng không ai tụt lại phía sau, tất cả đều đến đích tập kết. Và khi đến đích, chiến sĩ ta đã ví cây sắn có sức mạnh còn hơn cả một vườn mơ mà Tào Tháo đã bịa ra để động viên binh sĩ trong sách Tam quốc diễn nghĩa.

Chuyện kể rằng: Có một đơn vị sau này hành quân qua Tây Nguyên, thấy có nương sắn già, gốc thân như cây cổ thụ mà chẳng có ai thu hoạch. Hỏi, dân địa phương trả lời đó là nương sắn bộ đội trồng hồi bảy mươi. Lại hỏi sao không nhổ, không thu hoạch đi. Trả lời, đợi bộ đội về mãi chả thấy. Thì ra, theo chủ trương của mặt trận lúc ấy thì bộ đội đến đâu phải trồng sắn đến đó; ngày mai hành quân di chuyển đơn vị, hôm nay cũng phải trồng sắn để người sau, đơn vị sau đến có cái ăn. Nương sắn này đã bị quên lãng vì địa bàn ấy không có đơn vị nào qua, hoá thành “vườn sắn cổ thụ”. Có một bài thơ, hình như là của Cánh Trà nói về nương sắn kiểu này ở Tây Nguyên cho đến nay vẫn còn có người thuộc lòng. Bài thơ như sau:

Bọn tôi tới những nơi tưởng không có hơi người
Thì nương sắn lại hiện ra xoè lá vẫy
Sắn rồi sắn, cứ biếc lên như vậy
Khắp một vùng lũng hẹp, dốc cao

Như là sắn của trời cho, muốn dỡ, có sao đâu,
Dỡ để luộc, dỡ để gùi, được tất
Một trung đoàn ư? Một sư đoàn ư? Thả sức!
Đầy nồi – sắn – Thạch Sanh mà, không thể hết, đừng lo!

Vào đây lần đầu xin bạn nhớ cho
Có thói quen của người đi trước ta để lại
Dỡ một gốc hãy trồng thêm mấy gốc
Gặp bom phạt cây nào, nhặt cành gãy, trồng thay

Bọn tôi đi vào những rừng sắn ở đây
Cây mới nhú mầm, cây đã tầm tay với
Đội ngũ sắn cũng có nhiều lứa tuổi
Cũng như là trong đội ngũ chúng ta

Nhớ các chị, các anh tốt phát rẫy năm nào
Dưới mỗi gốc giọt mồ hôi thấm đọng
Tình đồng chí ngấm bùi hương vị sắn
Đường đi, lá biếc xôn xao…

Cũng phải kể thêm rằng không những chỉ trồng sắn mà bộ đội ta còn trồng cả dứa, cả lê-ki-ma để tỏ rõ ý chí bám trụ đến cùng của người lính Tây Nguyên.

Lại có chuyện về bài ca cây sắn. Nói đến bài “Cây sắn tấn công” không một người lính Tây Nguyên nào thời chống Mỹ lại không biết tới. Trước cao trào trồng sắn ở mặt trận, có người lính đã cảm xúc và làm thành bài hát. Lời của bài hát như sau:

Một cây sắn ta trồng là một tên Mỹ gục
Ngàn cây sắn ta vun là ngàn tên giặc tan thây
Khoái không? Khoái không?
Ta yêu cây sắn để trồng xanh tươi với núi sông. Nơi nơi cây sắn khắp vùng.
Bao la sắn điệp trùng
Ngàn ngàn kho sắn đầy.
Giặc nào dám đến đây, sắn này vung lên ngay, đánh cho giặc tan thây.
Khoái không? Khoái không?

Bài hát “Cây sắn tấn công” đã được đội văn nghệ xung kích của mặt trận dàn dựng và là tiết mục độc đáo của bộ đội Tây Nguyên tham dự hội diễn văn nghệ toàn chiến trường miền Nam tổ chức vào cuối năm 1969.

Ngoài cây lúa, cây sắn, bộ đội Tây Nguyên còn trồng ngô, trồng đỗ, trồng lạc, trồng khoai, trồng dong giềng, gieo kê, gieo vừng, gieo đỗ… Có thể nói chưa thấy ở nơi đâu trên thế giới này, từ trong lịch sử các cuộc chiến tranh lại có một đội quân vừa chiến đấu vừa sản xuất “thuần thục” như quân đội ta nói chung và bộ đội Tây Nguyên nói riêng.

Một điều như đã thành quy luật là khi người ta có thể ăn no thì tiếp đó sẽ nghĩ ngay đến chuyện phải tiến tới ăn ngon. Cái gọi là “ăn ngon” của bộ đội Tây Nguyên thật giản dị, đó chỉ là thức ăn mà thôi. Cao siêu thì thịt cá, bình thường thì chỉ là rau đậu, mắm muối.

Tây Nguyên những năm chống Mỹ, muối vẫn còn thiếu, nhưng không đến nỗi phải ăn tro tranh thay muối, chưa phải đến mức “giữ muối như giữ từng hạt máu” như những năm kháng chiến chống Pháp. Người lính Tây Nguyên luôn luôn tự nhủ mình rằng muốn làm việc gì cũng cần có sự chủ động, đánh địch cũng vậy, sản xuất cũng vậy, và ngay cả chuyện ăn uống cũng vậy. Là thế nên ngay từ khi mới gặp khó khăn trong việc tiếp tế từ hậu phương lớn, từ các cửa khẩu miền Tây vào họ đã nghĩ ngay đến việc phải tự túc thực phẩm song song với việc tự túc một phần về lương thực. Không thể để bộ đội đói cơm đã là một lẽ, cũng không được để bộ đội lạt muối. Với hai lạng mỡ, hai lạng mắm kem cho bộ đội dùng trong một tháng thì khó có được sức để sống để chiến đấu. Vì vậy vấn đề cải thiện đời sống được đưa vào chương trình nghị sự.

Cải thiện đời sống trước hết là cải thiện bữa ăn hàng ngày của bộ đội. Bữa ăn của người lính Tây Nguyên những năm 1968 – 1970 rất đạm bạc, sáng bánh sắn, trưa cơm độn sắn, canh sắn, tối cũng bánh sắn, dưa sắn.

Để có thực phẩm, các đơn vị đã tổ chức sưu tầm hơn 100 loại rau rừng ăn được. Ngoài việc hướng dẫn bộ đội cách trồng rau, các kỹ sư và công nhân trong xưởng chế biến của Mặt trận còn nghiên cứu chế biến thành công một số mặt hàng như: tương sắn, mắm kem chế từ lá sắn và xương động vật, thịt khô đóng gói, bánh kẹo làm bằng sắn, ngô, kê.

Nhiều đơn vị đã thành lập các tổ nông cụ, đồ dùng săn bắn, đánh cá, xay giã, chế biến thực phẩm, tiêu biểu nhất là các loại “máy” thái sắn, nồi hông, lò sấy măng...

Lao động cần cù không chỉ làm ra của cải vật chất mà trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ người chiến sĩ Tây Nguyên còn ngày càng trở nên tháo vát, thông minh, biết lo xa và giàu tinh thần tự lực trong cuộc sống.

Rất nhiều chiến sĩ sau những năm làm bạn với nương rẫy, núi rừng đã thuộc lòng từng loại lá, quả chua, phân biệt chính xác các loại nấm. Nhìn vào rừng cây đã có thể xác định được ở đó có loại thú nào, ăn đêm, ăn ngày, đi lẻ hay đi đàn. Nhìn xuống dòng suối, vùng nước có thể đoán được số lượng cá có thể đánh bắt. Săn bắn, bẫy thú, câu cá, bắt ong, đào măng, hái nấm, nhặt rau, đào củ... đã trở thành thói quen, niềm vui trong sinh hoạt hàng ngày của họ.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.