Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 12: Đỉnh cao gian nan năm 1969

• 25/06/2026 14:24

Tôi vẫn thường trở lại Tây Nguyên. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng (3–1975), dường như năm nào tôi cũng về thăm lại miền đất thương nhớ và với đầy kỷ niệm này. Nói là về thăm thì không hẳn đúng lắm. Tôi trở lại Tây Nguyên để làm nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình, gặp lại đồng đội, bạn bè chiến đấu năm xưa, thăm lại những nơi mà mình đã sống và chiến đấu. Mỗi cuộc gặp, mỗi lần thăm (đặc biệt với đồng bào ở các khu căn cứ cũ) không chỉ gợi lại niềm vui chiến thắng mà nhiều hơn là kỷ niệm những ngày gian khổ thiếu thốn, tình đồng chí, đồng đội, đồng bào đoàn kết gắn bó, chia sẻ ngọt bùi.

Với mỗi người chiến sĩ Tây Nguyên năm xưa, mỗi lần nhớ về Tây Nguyên, nhớ lại những năm tháng khó khăn chưa xa ấy, có lẽ câu chuyện ám ảnh nhất, ấn tượng nhất, khó quên nhất là câu chuyện về cái đói, sự chiến thắng cái đói, rồi sau đó mới là chuyện đánh giặc.

Tôi còn nhớ cuối năm 1965, đầu năm 1966, đến ngày 29 tháng chạp, ở cơ quan chính trị mặt trận chỉ còn vài chục lon gạo và sắn, thực phẩm không có gì. Anh em bàn nhau và quyết nghị: ngày 30 Tết một mình chủ nhiệm trực ở nhà giải quyết công việc, còn hơn hai chục cán bộ phân công nhau đi “kiếm ăn”, đào củ rừng, hái rau, săn bắn. Và kết quả cũng khá: đủ cho ba ngày Tết.

Hai năm 1966 - 1967 cán bộ, chiến sĩ toàn chiến trường một mặt rút kinh nghiệm trong những trận đầu đánh Mỹ, huấn luyện nâng cao trình độ, tác chiến lập được nhiều chiến công khá lớn. Chiến dịch Sa Thầy, diệt 1 tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác; chiến dịch Đắc Tô I, đánh thiệt hại nặng lữ dù 173 Mỹ và lữ 1 sư đoàn 4 Mỹ, góp phần cùng quân dân toàn miền đánh bại chiến lược “tìm diệt” của đế quốc Mỹ; mặt khác tích cực tăng gia sản xuất, đẩy mạnh hoạt động mua hàng ở Cam-pu-chia và đường chiến lược 559 đã vào đến binh trạm 37 nên tiếp tế, hậu cần khá hơn, đời sống tương đối dễ chịu. Sang năm 1968, nhiệm vụ tác chiến liên tục vừa duy trì đòn tiến công đô thị, vừa đánh phá âm mưu và thủ đoạn “bình định” của địch, giữ vững nông thôn và phá ấp mở vùng, giải phóng nhân dân (năm 1968 đã phá được 130 ấp chiến lược, giải phóng 60.000 dân) nên không còn thời gian sản xuất.

Do đó bước sang năm 1969, chiến trường Tây Nguyên gặp khó khăn lớn vì đạn dược, thuốc men, quân trang và nhất là lương thực. Nguồn dự trữ rất mỏng, lại phân tán nhiều nơi.

Theo số liệu ghi trong sổ tay của tôi thì vào đầu mùa hè năm 1969 tổng lương thực dự trữ của cả chiến trường B3 chỉ đủ để nuôi bộ đội một tuần, gạo năm 1968 chuyển qua năm 1969 chưa bằng một phần ba tồn kho năm 1967 chuyển qua năm 1968! Thực phẩm còn bị cạn kiệt hơn. Dường như tất cả hệ thống kho tàng đều trống rỗng. Cũng xin được nói thêm rằng, nguồn lương thực thực phẩm nuôi sống bộ đội Tây Nguyên dựa vào bốn nguồn:

1. Trên cấp, tức là từ A, từ miền Bắc vào.

2. Tự mua.

3. Địa phương cho.

4. Tự túc bằng tăng gia sản xuất.

Thì cả bốn nguồn trên đều bị “tắc”. Số lượng lương thực thực phẩm từ A không vào được hoặc vào rất nhỏ giọt do địch đánh phá, năm 1969 chỉ nhận được khoảng 30%. Trong khi đó cửa khẩu miền Tây (nguồn tự mua) bị đóng do những biến động ở Cam-pu-chia. Đồng bào thì còn đói hơn bộ đội lấy gì mà cho. Còn về việc tăng gia sản xuất cũng không phải không gặp khó khăn bởi địch đang ráo riết giành dân song song với giành đất. Chúng còn coi mục tiêu triệt phá nguồn cung cấp của ta là một trong những mục tiêu “chiến lược” quan trọng của chúng. Địch không chỉ dùng bom pháo, chất độc phá hoại nương rẫy mà chúng còn chủ trương “giành rẫy”, “giành ruộng” của ta nữa. Và lại việc tăng gia sản xuất đâu chỉ ngày một ngày hai là có ăn ngay. Từ cái hom sắn đặt xuống đất phải mất nhiều thời gian và công lênh mới có được củ sắn.

Trong tình hình các nguồn tiếp tế bị nghẽn, kho tàng cạn kiệt như vậy, Tây Nguyên vẫn vừa phải lo tự nuôi mình vừa phải lo toan việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho các đơn vị khách đi qua (gồm cán bộ đi công tác, thương bệnh binh, từ A vào B2 Nam Bộ, hoặc ngược lại từ B2 ra hậu phương lớn miền Bắc), gọi là khách hành lang (năm 1969 Tây Nguyên đã cung cấp 494 tấn lương thực, thực phẩm cho hơn 61.500 người qua lại trên hành lang).

Do vậy mà từ tiêu chuẩn 2 lon gạo (tương đương 5 lạng) một ngày cho mỗi người nay rút xuống còn 2,5 lạng/người/ngày, rồi rút tiếp xuống 1,2 lạng. Nhiều tuần lễ cả cơ quan phải ăn sắn, rau trừ bữa!

Cái đói của Tây Nguyên những năm ấy, sau này đã được đưa vào thơ văn. Cái ống coóng của bộ đội – một cái ống bơ để đun nấu, cái tiện mà dường như người lính Tây Nguyên nào cũng biết. Lính ta đi đâu cũng mang nó theo để gặp bất cứ thứ gì ăn được là cho vào đó, đun lên thành thức ăn. Đó là một thứ nồi thắng cố, canh hỗ lốn của lính gồm đủ loại: cua, cá, rau, củ, chuột, chim, khoai... tất tật. Cái ống coóng đã đi vào một bài thơ của nhà thơ Thanh Thảo gọi là Bài ca ống coóng. Nhiều chiến sĩ Tây Nguyên nay vẫn nhớ bài thơ như sau:

Bài ca của chúng tôi
Là lời ca ống coóng
Hành trang quân giải phóng
Đơn giản nhất trên đời
Tháng năm sẽ dần phai
Bao bài ca duyên dáng
Nhưng tôi biết giờ đây
Như khắc vào đá tảng
Như vạch vào thân cây
Bài ca của hôm nay
Thô sơ và rực sáng

Nhà thơ thì viết về cái đói như vậy còn người thầy thuốc viết về cái đói đáng sợ hơn nhiều. Bác sĩ Lê Cao Đài – nguyên Viện trưởng Viện quân y 211 thuộc chiến trường B3 trong một quyển hồi ký viết, đói là nguyên nhân căn bản của bệnh thiếu vi-ta-min B1 cộng với lao động nặng nhọc dẫn đến phù tim. Người mắc bệnh tương tự như kẻ ốm giả vờ. Đang họp lăn ra chết, có người đang ăn tự nhiên tay thõng xuống và liệt luôn! Mổ tử thi những người này thấy tim to như quả bưởi, thành tim mỏng như tờ giấy bìa, nhợt nhạt, nhẽo mềm. Ở Tây Nguyên hồi ấy có cả trăm đồng chí chết vì thiếu vi-ta-min B1. Bác sĩ Võ Văn Vinh, nguyên chủ nhiệm quân y B3 nhận xét: bệnh ấy chỉ thấy trong các nạn đói.

Nói về cái đói ở Tây Nguyên, không thể không nói cái thiếu. Cuốn sổ tay của tôi ở chiến trường năm 1969 ghi: Chiến sĩ B3 được phát trong năm:

– 01 bàn chải đánh răng.

– 250 gam xà phòng (kế hoạch 1 kg).

– 700 gam thuốc lá (50 gam/tháng).

Bước sang năm 1970, tiêu chuẩn cũng vậy. Mỗi tháng chiến sĩ được hưởng: 2 lạng mỡ, 2 lạng mắm kem, 1 kg muối, 12 kg gạo (đi trận thêm 5 lạng đường, 1 hộp sữa, nửa cân đậu xanh, 5 lạng gạo hấp/ngày).

Về mặc, mỗi người một bộ dài, một bộ lót (lanh). Những người đi chiến đấu bổ sung thêm 4 người 1 bộ, trực thuộc cơ quan 8 người 1 bộ. Toàn mặt trận có tới 1/3 lính bận đồ rách vá, một nửa số quân không có võng, tăng, ni-lông...

Vì thiếu đói nên bệnh sốt rét phát triển mạnh, có tháng sốt cả ngàn người và dường như ai cũng qua cái sốt. Người sốt rét gặp tình trạng thiếu ăn, lao động nặng nhọc thì lại chịu ảnh hưởng của chất độc hóa học Mỹ... càng mắc thêm các chứng bệnh khác như tiêu chảy, phù thũng, suy tim... Có thời kỳ ở các bệnh xá, bệnh viện thương binh thì ít, bệnh binh thì nằm la liệt kể đến cả ngàn người. Nhiều bệnh nhân tiêu chảy, suy kiệt sức lực không nhổm người lên được. Nước phân chảy qua lỗ hậu môn rộng hoác, không thuốc nào cầm được, cứ thế suy kiệt cho đến chết. Có những đồng chí bị phù thũng toàn thân, đặc biệt là hai bàn chân. Ấn ngón tay đến đâu lõm đến đó như ấn vào miếng đất sét dẻo. Hồng cầu giảm dưới 2 triệu... Theo thống kê của quân y mặt trận thì số bệnh binh nằm ở quân y thường đông gấp 10 lần số thương binh!

Cũng do đói thiếu mà sinh ra bệnh tật, cũng do đói thiếu mà người lính Tây Nguyên còn phải chịu bao nhiêu tai họa khác. Họ chết, họ mang bệnh tật nhiều khi không phải do bom đạn mà do bị “suối cuốn, núi xô, cây đổ, hố vỡ”, hoặc bị nhiễm độc vì rau, củ, quả rừng... trên đường đi lấy gạo, đi công tác, đi sản xuất. Ai đó đã viết những câu thơ rất đúng về những sự hy sinh này:

Những chiếc võng mục giữa rừng nguyên thủy
Còn ôm bạn ta cơn sốt rét cuối cùng
Những lán hầm nửa đêm mưa xối xả
Giấc ngủ vùi bên nhau khô ướt mấy mươi lần

Tình hình Tây Nguyên đang đứng trước một thử thách nghiệt ngã và có thể nói năm 1969 là năm đỉnh cao của gian nan.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.