Trận đánh

Trận đánh

Kỳ 8: Thử thách tư tưởng sau chiến thắng

• 25/06/2026 13:47

Sau chiến thắng Plây Me – Ia Đrăng, một phần do tính chất ác liệt của cuộc chiến, thương vong của quân ta cao¹, một phần do sau một thời gian hành quân liên tục dài ngày đến chiến trường bước vào chiến đấu ngay nên bộ đội xuống sức rất nhanh. Thêm vào đó ăn uống kham khổ, thuốc men thiếu thốn, bộ đội bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng, bệnh tật phát triển, nhất là bệnh tê phù và sốt rét ác tính. Quân số chiến đấu các đơn vị chỉ còn một nửa. Có trung đoàn số anh em sốt rét, tê phù lên đến 400 người. Cá biệt có đại đội 115 người chỉ còn 33 người tương đối khỏe. Bệnh xá các trung đoàn tỷ lệ thương binh: 4, bệnh binh: 1. Kẻ địch lợi dụng tình hình trên ngày đêm cho máy bay L19, OV10 thả truyền đơn trắng rừng và dùng loa công suất lớn ra rả kêu gọi chiến sĩ ta “chiêu hồi” với những luận điệu thâm độc vừa dụ dỗ vừa hăm dọa như: “Hỡi các bạn cán binh Bắc Việt, các bạn có thể sinh ra ở Bắc để chết ở Nam không? Các bạn hãy mau mau trở về với chính nghĩa quốc gia, các bạn sẽ được đối xử tử tế”. Đêm đêm chúng sử dụng cả tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa, lợn kêu để gợi nhớ quê hương gia đình hòng lung lạc tinh thần bộ đội ta.

Những vấn đề trên đã tác động không nhỏ đến tư tưởng bộ đội. Ở các đơn vị bao trùm không khí trầm trầm, có nơi nặng nề. Mọi người tỏ ra mệt mỏi, ngán ngẩm. Khi ăn cơm thấy đồng đội vơi hẳn, nhiều anh em khóc. Một số đơn vị có đến hai phần ba số quân suốt ngày nằm võng, bàn tán đủ chuyện tiêu cực. Có người mặt mũi bẩn thỉu, ở gần suối cũng không chịu rửa. Có những lá thư gửi về gia đình khẳng định rằng trước sau gì rồi mình cũng thương vong, không vì đạn thẳng thì cũng vì pháo và bom địch, không vì đói thì cũng vì sốt rét ác tính. Nhiều nơi xuất hiện những câu ca tiêu cực bi hài như:

Tây Nguyên đi dễ khó về
Thiếu gạo, thiếu muối tái tê lòng người

hay:

Tây Nguyên thiếu muối, thiếu rau
Ốm đau thiếu thuốc thương nhau làm gì!

Chua chát hơn, bi quan hơn có người cho mình như con cua nằm trong cái cống sớm muộn gì rồi cũng chết:

Con cua nằm trong cái cống
Chẳng biết lúc nào cái chày nó giã lên mai,...

Tôi còn được nghe kể lại những hiện tượng sống gấp. Anh em nói với nhau: “Có mà không ăn là có tội với dạ dày”, nên cơm tiêu chuẩn hai ngày họ ăn một bữa. Rồi khi thấy máy bay quần lượn nảy ra trò: “máy bay bay một vòng đổ một thìa đường vào miệng, máy bay bay hai vòng đổ hai thìa đường vào miệng, máy bay bay ba vòng đổ ào vào miệng”, v.v... Trong khi đó một số cán bộ có hành động quân phiệt gây nên trạng thái tâm lý căng thẳng giữa cán bộ và chiến sĩ làm không khí đoàn kết thương yêu, sống chết cùng nhau bị giảm sút. Chiến sĩ không thiết tha gắn bó với đơn vị, không nghe lời cán bộ. Chỉ huy quát mắng chiến sĩ càng không nghe, đưa chiến sĩ đến chỗ bị động. Do đấu tranh kém, ý thức tự tôn, tự trọng kém dẫn đến một số làm ngơ và đồng tình trước những vi phạm phẩm chất, khí tiết: ăn cắp của nhau, lấy chuối, bắt gà của dân, đi lại, bắn súng bừa bãi. Lối sống thực dụng bê tha, phóng uế bừa bãi nơi trú quân phát triển.

Diễn biến tâm lý của chiến sĩ xoay quanh:

Ba lo: Lo bom giặc, lo đạn giặc, lo ốm bệnh.

Hai ngán: Ngán chiến trường Tây Nguyên, ngán lâu dài.

Một bực: Bực cán bộ ăn ở bạc bẽo, quân phiệt.

Nghiêm trọng hơn, trong cán bộ và chiến sĩ xuất hiện tư tưởng ngại hy sinh gian khổ, thực chất là dao động, giảm sút ý chí chiến đấu.

Tôi còn nhớ ngày 7 tháng 12 năm 1965, cơ quan chính trị mặt trận tổ chức gặp mặt một số dũng sĩ diệt Mỹ của trung đoàn 66 trong trận Ia Đrăng, đó là: Tô Văn Dan, chiến sĩ đại đội 3 tiểu đoàn 7; Hứa Văn Kính, chiến sĩ tiểu đội 6 trung đội 2 đại đội 2 tiểu đoàn 7; Lê Khắc Nga, tiểu đội trưởng đại đội 6 tiểu đoàn 8; Phạm Văn Phán, đại đội 7 tiểu đoàn 8, v.v.. Khi anh em này đến cơ quan chính trị mặt trận trời đã về chiều. Chúng tôi cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt, sáng hôm sau làm việc. Chiều hôm đó anh Chu Huy Mân và tôi mời cơm số anh em này. Bữa cơm khá thịnh soạn, có thịt gà và cơm gạo nương (đồng bào vừa tặng). Tôi quan sát anh em ăn ngon lành, mọi người cười nói vui vẻ...

Sáng hôm sau, đồng chí trợ lý thi đua chạy đến vừa thở vừa báo cáo với tôi là có một “dũng sĩ” đã đào ngũ.

Tôi hỏi lại:

— Tên cậu ta là gì?

Đồng chí trợ lý thi đua:

— Báo cáo thủ trưởng, đồng chí ấy tên là N.T.C., người đã diệt 12 tên Mỹ bằng lưỡi lê và súng AK trong trận ngày 14 tháng 11.

— Đồng chí có biết cậu ta đi vào quãng thời gian nào không — Tôi hỏi.

— Báo cáo thủ trưởng, chắc là vào khoảng từ 10 giờ 30 phút đêm trở đi. Vì lúc 10 giờ tôi còn đi một lượt xem anh em ngủ nghỉ ra sao, vẫn thấy đủ cả, mọi người đang nói cười khúc khích. Thế mà sáng ra anh em gọi nhau dậy, tăng võng của C. vẫn còn nguyên, tưởng cậu ta đi vệ sinh, nhưng khi kiểm tra ba lô, súng đạn không thấy, anh em đều cho rằng cậu ấy đã “nghi binh” họ để đào ngũ rồi...

Ngay sau đó tôi báo cáo anh Chu Huy Mân về trường hợp của C. Nghe xong anh nói:

— Cậu ta còn trẻ, nông nổi, tâm lý chưa ổn định. Chắc cậu ta hồi tưởng cảnh ác liệt nên hoang mang. Anh cho một cán bộ và một vệ binh theo đường giao liên ra Bắc tìm bằng được cậu ta về. Chắc cậu ấy chưa đi xa đâu. Nhớ dặn anh em tuyệt đối không được mắng mỏ dọa nạt, phải ân cần động viên cậu ấy...

Ít ngày sau anh em đã gặp C. bên bờ nam sông Bạc và đã động viên cậu ấy trở lại đơn vị. Trước tình hình trên, Đảng ủy Mặt trận chủ trương tiến hành củng cố bộ đội toàn diện. Trước hết tập trung củng cố ý chí chiến đấu, phẩm chất khí tiết, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ đến cùng.

— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.