Trận đánh
Kỳ 35: Thành lập Quân đoàn 3
Giữa lúc khối chủ lực Tây Nguyên đang cùng quân dân địa phương giải phóng các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ, ngày 27 tháng 3 năm 1975, Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu phó, điện thông báo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thành lập Quân đoàn 3. Bộ tư lệnh quân đoàn gồm Vũ Lăng làm Tư lệnh, tác giả (Đặng Vũ Hiệp) làm Chính ủy, Nguyễn Năng và Nguyễn Kim Tuấn làm Phó tư lệnh, Phí Triệu Hàm làm Phó chính ủy. Ba cơ quan Mặt trận Tây Nguyên chuyển thành Bộ Tham mưu do Hồ Đệ đứng đầu, cùng các phó tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước, Lê Minh; Cục Chính trị do Thái Bá Nhiệm phụ trách, phó là Nguyễn Đăng; Cục hậu cần do Cấn Văn Tài đứng đầu, các phó chủ nhiệm Đặng Văn Khoát, Đỗ Thuyên, Lưu Sĩ Hiệp. Đảng ủy Quân đoàn cũng được chỉ định với tác giả làm Bí thư, Vũ Lăng làm Phó bí thư, cùng một tập thể đảng ủy viên chính thức và dự khuyết gồm nhiều cán bộ chỉ huy chủ chốt của các đơn vị.
Quân đoàn 3 tổ chức thành 3 sư đoàn bộ binh: Sư đoàn 10 (Đoàn Hồng Sơn - Sư đoàn trưởng, La Ngọc Châu - Chính ủy), Sư đoàn 320 (Bùi Đình Hòe - Sư đoàn trưởng, Bùi Huy Bổng - Chính ủy), Sư đoàn 316 (Nguyễn Hải Bằng - Sư đoàn trưởng, Hà Quốc Toản - Chính ủy), cùng hệ thống binh chủng đầy đủ: trung đoàn đặc công 198, các đơn vị pháo binh (lữ đoàn 40, trung đoàn 675), ba trung đoàn cao xạ (593, 234, 232), lữ đoàn xe tăng 273, lữ đoàn công binh (từ trung đoàn 7), trung đoàn thông tin 29 — tổng quân số khoảng 45.000 đến 47.000 người.
Thời cơ chiến lược chín muồi
Sau chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng tiếp tục giáng đòn chiến lược thứ hai, xóa sổ 2 trong 4 quân khu địch với 35% sinh lực, 40% cơ sở vật chất, giải phóng 12 tỉnh với 8 triệu dân. Ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị họp và kết luận cuộc chiến tranh cách mạng đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, thời cơ tổng công kích, tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Quyết định đưa ra: nắm vững thời cơ với tinh thần thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, phải hoàn thành trong tháng 4, không thể chậm trễ.
Cả nước dồn sức cho trận đánh cuối cùng. Ở miền Bắc, thanh niên nô nức nhập ngũ, mọi phương tiện vận tải được huy động tối đa chi viện tiền tuyến, những đoàn xe kéo pháo phủ kín lá ngụy trang nối nhau ngày đêm đổ về chiến trường. Trên khắp các hướng, các quân đoàn chủ lực đồng loạt hội quân về Sài Gòn: Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Lâm Đồng, Di Linh tiến công sư đoàn 18 ngụy ở Xuân Lộc; Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 Quân khu 5 đập tan tuyến Phan Rang, tiến về Long Thành, Bà Rịa, Nước Trong, Vũng Tàu; Quân khu 8, Quân khu 9 áp sát đường số 4, Đoàn 232 tiến vào tuyến sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa; Quân đoàn 1 theo quốc lộ 1 tiến vào nam Sông Bé. Quân đoàn 3, sau khi giải phóng Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh, cũng nhận lệnh tiến về Sài Gòn.
Tin vui khiến toàn quân đoàn náo nức. Những việc chuẩn bị trước đây cần hàng tuần, hàng tháng nay chỉ được phép hoàn thành trong ngày, trong buổi. Theo đề nghị của Sư đoàn 10, Bộ tư lệnh quyết định để lại toàn bộ pháo 122 ly, thay bằng pháo 105 ly thu được của địch để giảm gánh nặng vận chuyển và tận dụng nguồn đạn dồi dào tại chỗ. Dù Đoàn 559 và hậu cần quân đoàn đã huy động gần 3.000 chuyến xe, vẫn còn thiếu hàng trăm xe, nên các sư đoàn chủ động liên hệ chính quyền địa phương: Sư đoàn 10 cử Lê Quang Mỹ, Chủ nhiệm chính trị, làm việc với Ủy ban quân quản Nha Trang, Cam Ranh, huy động hơn 60 xe cùng cả lái xe là lính ngụy bị bắt làm tù binh; tại Buôn Ma Thuột, Y Blốc huy động thêm hàng trăm lái xe và 250 xe các loại phục vụ quân đoàn cơ động.
Trong quá trình chuẩn bị, có hai việc tác giả nhớ mãi. Thứ nhất, việc phân công người ở lại trông coi hậu cứ tưởng đơn giản nhưng lại thành vấn đề vì chẳng ai chịu ở lại, nhiều đơn vị phải họp chi bộ, đảng ủy ra nghị quyết mới giải quyết được. Thứ hai, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn chủ trương đưa tất cả cán bộ đang bị kỷ luật "treo giò" tham gia trận đánh cuối cùng, ai hoàn thành nhiệm vụ sẽ được xóa hết lỗi lầm trước đó — một chủ trương mà sau này nhìn lại được đánh giá là đúng đắn, vì khi chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, Quân đoàn 3 không còn cán bộ nào vướng án kỷ luật.
Cuộc hành quân thần tốc
Ngày 4 tháng 4, Sư đoàn 316 cùng bộ phận cán bộ chuẩn bị chiến trường bắt đầu hành quân vào Đồng Xoài. Sư đoàn 320 từ Tuy Hòa quay lại đường số 7 rồi theo đường 14 qua Đức Lập, Bu Prăng, Bình Long vào Đông Nam Bộ. Sư đoàn 10 chia hai hướng: một bộ phận đã tới Đơn Dương theo quốc lộ 20 xuống Duy Linh, rẽ Gia Nghĩa về Kiến Đức; bộ phận còn lại đang ở Nha Trang, Cam Ranh quay về đường 21 qua Buôn Ma Thuột rồi theo đường 14 xuống — cả hai hội quân tại Kiến Đức. Xe chạy không kể ngày đêm, bộ đội chỉ được dừng ngắn để thổi cơm, nấu nước rồi tiếp tục lên đường. Ngồi trên xe không mui giữa nắng bụi, ai nấy đen xạm nhưng đều phấn khởi. Qua Lộc Ninh, An Lộc, Chơn Thành, giữa những lô cao su bạt ngàn, hệ thống đường mới cắt ngang đường cũ với hàng chục ký hiệu (A100, A300, T500...) giúp từng đơn vị tìm đúng tuyến của mình, trong khi sĩ quan tham mưu cùng công binh, thông tin thức trắng đêm hướng dẫn các đoàn quân vào đúng vị trí.
Hai lần nhận nhiệm vụ
Ngày 12 tháng 4 năm 1975, tác giả cùng Vũ Lăng có mặt tại Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, phía tây Lộc Ninh, nhận nhiệm vụ lần thứ nhất. Đại tướng Văn Tiến Dũng phân tích thời cơ chiến lược, quyết tâm của Bộ Chính trị, giao Quân đoàn 3 đảm nhiệm hướng tây bắc và đông bắc đánh vào Sài Gòn, tập trung tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy không cho co cụm về nội đô, đồng thời tổ chức lực lượng đột kích đánh chiếm Hóc Môn, sân bay Tân Sơn Nhất, các bộ tư lệnh thiết giáp, pháo binh và mục tiêu chủ yếu là Bộ tổng tham mưu ngụy. Mọi công tác chuẩn bị phải hoàn thành trước ngày 20 tháng 4.
Ngày 14-15 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân đoàn giao nhiệm vụ cụ thể cho các sư đoàn và đơn vị binh chủng, ai nấy đều phấn khởi, hạ quyết tâm hoàn thành xuất sắc. Ngày 16 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn họp quyết định thăng quân hàm cho một loạt cán bộ trung đoàn và cơ quan sư đoàn trở lên từ cấp thiếu tá, trung tá đến thượng tá, đại tá ghi nhận công lao của nhiều cán bộ chỉ huy đã gắn bó suốt chiến dịch Tây Nguyên. Hầu hết số cán bộ được đề bạt đợt này sau đó đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều người được tặng thưởng huân chương và trở thành tướng lĩnh.
Sáng 23 tháng 4, tác giả cùng Vũ Lăng có mặt lần thứ hai tại Bộ chỉ huy chiến dịch, báo cáo quyết tâm và nhận nhiệm vụ chính thức có điều chỉnh: Quân đoàn 3 đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu từ tây bắc vào Sài Gòn, dùng lực lượng cỡ sư đoàn tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, chia cắt tuyến Đồng Dù - Tân Quy - Củ Chi - Trảng Bàng, bao vây tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, đồng thời tổ chức lực lượng đột kích mạnh thọc thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, phối hợp đánh Bộ tổng tham mưu, dinh Độc Lập.
Lực lượng địch trên hướng này khá mạnh: sư đoàn 25, các liên đoàn biệt động 9, 32, liên đoàn 6 công binh, khoảng 2 vạn quân trung tâm huấn luyện Quang Trung, trung đoàn thiết giáp 10, lữ đoàn dù 4, 20 tiểu đoàn bảo an và 86 khẩu pháo; tại Tân Sơn Nhất có sư đoàn 5 không quân cùng các bộ tư lệnh dù, không quân, thiết giáp. Chiều sâu phòng ngự của địch trên hướng này khoảng 100km.
Sau khi Vũ Lăng báo cáo quyết tâm, các lãnh đạo tham dự đã có những chỉ đạo quan trọng. Lê Đức Thọ nhấn mạnh thời cơ đã chín muồi, cần tranh thủ từng giờ trước khi mùa mưa đến và tình hình chính trị - ngoại giao thêm phức tạp, đồng thời nhắc nhở phải tổ chức thật cụ thể, giáo dục bộ đội giữ kỷ luật nghiêm, không để địch dùng tiền bạc, cám dỗ lôi kéo, giữ gìn tài sản quốc gia, tránh tự kiêu tự đại. Văn Tiến Dũng làm rõ nhiệm vụ chủ yếu là đột kích liên tục đánh chiếm mục tiêu bên trong thành phố, việc đánh sư đoàn 25 bên ngoài chỉ là điều kiện chứ không phải mục tiêu chính, không nên sa lầy giằng co; mục tiêu cốt lõi của Quân đoàn 3 là sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu, còn dinh Độc Lập thuộc nhiệm vụ đơn vị khác. Phạm Hùng, Chính ủy chiến dịch, căn dặn phải làm tốt công tác chính trị đến từng chiến sĩ, khắc phục khó khăn thời tiết và thời gian, đồng thời nhắc lại ý nghĩa lịch sử của trận đánh kết thúc sự nghiệp thống nhất đất nước, mang lá cờ Quyết chiến quyết thắng của Bác Hồ cắm lên thành phố mang tên Người, đúng dịp kỷ niệm 85 năm ngày sinh Bác.
Trước đó, ngày 21 tháng 4, Mỹ đã huy động hơn 30 tàu chiến, 4 tàu sân bay và hàng trăm máy bay lập cầu hàng không di tản người Mỹ khỏi Sài Gòn; cùng ngày Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức. Ngày 24 tháng 4, Tổng thống Mỹ Ford tuyên bố chiến tranh đã kết thúc với người Mỹ. Thời cơ quân sự và chính trị để tổng tiến công vào Sài Gòn đã hoàn toàn chín muồi.
Những giờ khắc trước giờ nổ súng
Trong khi Sư đoàn 10 vẫn đang hành quân dọc đường khiến Bộ tư lệnh Quân đoàn lo lắng dõi theo từng bước, công tác chuẩn bị được đẩy nhanh tối đa. Công binh lữ đoàn 7 và trung đoàn 575 hoàn thành bảo đảm đường cơ động, có mặt đầy đủ tại Minh Thạnh, Dầu Tiếng. Các lực lượng trinh sát, công binh phải đóng giả dân, vượt qua đồn bốt địch để xác định tuyến đường giữa địa hình trống trải, không có bản đồ đối chiếu khác hẳn địa hình rừng núi hiểm trở ở Tây Nguyên.
20 giờ ngày 20 tháng 4, Chủ nhiệm công binh Trần Huy Ngọ báo cáo hoàn thành phà 50 tấn qua Bến Củi, hai giờ sau hoàn thành phà thứ hai qua Bến Tranh. 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4, Chủ nhiệm quân y Nguyễn Tụ báo cáo bệnh viện dã chiến và các đội phẫu thuật đã sẵn sàng. 20 giờ cùng ngày, Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho các đơn vị vượt sông Sài Gòn tiến vào vị trí tập kết; đêm đó Sư đoàn 10 đến Dầu Tiếng an toàn. Ngày 26 tháng 4, Chủ nhiệm thông tin Hồ Trọng Tuyến báo cáo hoàn thành hệ thống liên lạc. Cùng ngày, Cục Chính trị hoàn thành in khẩu hiệu cổ động và sơ đồ Sài Gòn thu nhỏ phát cho các đơn vị, đồng thời phổ biến Chỉ thị công tác chính trị chiến dịch, quán triệt bảy điều dạy của Bác Hồ và lời dạy khi bộ đội tiếp quản Thủ đô năm 1954, xây dựng quyết tâm mang lá cờ Quyết chiến quyết thắng cắm lên thành phố mang tên Bác.
Đêm 28 tháng 4, dưới ánh trăng rằm, Sở chỉ huy Quân đoàn rời Dầu Tiếng về Củ Chi. Các đơn vị bộ binh, cao xạ, xe tăng lần lượt vào chiếm lĩnh trận địa. Thành ủy và thành đội Sài Gòn - Gia Định cử cán bộ, biệt động ra tận nơi tập kết dẫn đường; thanh niên và các mẹ, các chị ở Củ Chi, Trảng Bàng bất chấp bom pháo địch, thức cùng bộ đội sửa công sự, bổ sung ngụy trang, nấu nước tiếp tế — nguồn cổ vũ lớn lao cho quân đoàn trước giờ xuất kích.
Trước đó, ngày 20 tháng 4, trung đoàn 174 được du kích Tây Ninh dẫn đường đã bất ngờ đánh chiếm đoạn đường 7km từ cầu Cẩm An đến Bến Mương. Từ 25 tháng 4, các trận địa pháo quân đoàn dội bão lửa liên tục 4 ngày vào Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ, đánh tê liệt 11 trong 18 trận địa pháo địch, phá hủy 22 pháo 105 ly, 12 pháo 155 ly, đốt cháy 12 kho đạn và xăng dầu. Thế phòng ngự của sư đoàn 25 ngụy suy yếu hẳn, buộc chúng co cụm về Đồng Dù lập lá chắn; Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 316 khóa chặt địch ở Phước Mỹ.
Đêm 28 tháng 4, sau khi nắm chắc tình hình các hướng Quân đoàn 2 đánh Nước Trong, Long Thành tiến về Bà Rịa; Quân đoàn 4 sau Xuân Lộc đánh chiếm Trảng Bom, đặc công chiếm cầu Rạch Chiếc; Quân khu 8 cắt đường số 4; Quân đoàn 1 áp sát bắc Lái Thiêu — Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 quyết định cho Sư đoàn 320, Sư đoàn 10 chiếm lĩnh trận địa, giao Sư đoàn 10 nắm chắc trung đoàn đặc công 198 và trung đoàn 64 đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng, bàn đạp Hóc Môn; Sư đoàn 320 tập trung dứt điểm Đồng Dù; Sư đoàn 316 áp sát tiêu diệt chi khu Trảng Bàng. Bộ tư lệnh đặc biệt lưu ý mối quan hệ mật thiết giữa thời điểm nổ súng đánh Đồng Dù, cầu Bông, cầu Sáng với mũi thọc sâu của Sư đoàn 10 — chỉ cần sai thời cơ, địch có thể gây khó khăn lớn cho toàn bộ đội hình.
Sau khi cân nhắc kỹ ba phương án đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng — hai con đường độc đạo duy nhất xuyên cánh đồng lúa vào Sài Gòn, nơi địch cài sẵn thuốc nổ tại các trụ cầu — Bộ tư lệnh quyết định thời cơ đánh chiếm sẽ trùng với lúc Sư đoàn 320 siết chặt vòng vây Đồng Dù, một thời cơ chỉ tính bằng phút, đòi hỏi các đơn vị hiệp đồng chính xác tuyệt đối.
Về căn cứ Đồng Dù cánh cửa sắt án ngữ tây bắc Sài Gòn rộng 8km², do sư đoàn 25 ngụy (mệnh danh "tia chớp nhiệt đới") xây dựng với hệ thống hàng rào, bãi mìn, tường đất kiên cố, sân bay dã chiến, trung tâm viễn thông hiện đại, khoảng 3.000 quân cùng 18 khẩu pháo (trong đó 4 khẩu 175 ly) và 20 xe tăng — Sư đoàn 320 bố trí trung đoàn 48 làm chủ lực đột phá hai hướng tây bắc và tây nam, trung đoàn 9 làm dự bị. 2 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, Sư đoàn 320 hoàn tất triển khai lực lượng, sẵn sàng cho giờ nổ súng.
— Đặng Vũ Hiệp (2002), Ký ức Tây Nguyên, NXB Quân đội Nhân dân.